Myhome của quan

Chuyên mục: Du lịch-Văn hóa

Người Hà Nội thanh lịch: “Bao giờ cho đến ngày xưa”?

 

Điều quan trọng nhất hiện nay là người Hà Nội cần hình thành ý thức và phong cách sống của người thị dân đích thực, trước hết là tự giác tuân thủ pháp luật và những quy ước chung của cộng đồng. Có thể thấy nét thanh lịch của người Hà Nội đang dần mai một. Vì thế, việc cố gắng khái quát hóa, trừu tượng hóa danh hiệu “Người Hà Nội” xem chừng ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp.

 

Nét thanh lịch của người Hà Nội

Liệu tính cách người Hà Nội có còn là mẫu số chung cho mọi kiểu người nhắc đến tính thanh lịch không?

Dấu ấn ngày xưa

Nói đến tính thanh lịch của người Hà Nội, người ta lại nhớ tới câu ca dao cũ: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Ngụ ý đặt “người Tràng An” bên cạnh “hoa nhài”, “thơm” sánh với “thanh lịch”. Đây quả là một sự liên tưởng độc đáo! Hoa nhài màu trắng mọc thành cụm, nở về đêm, có mùi thơm dịu nhẹ, thoang thoảng và quyến rũ. Có thể những đặc điểm này mà người xưa đã dùng để so sánh với nét đẹp của người Hà Nội.

“Thanh lịch”, thanh nhã và lịch sự, là một phẩm chất đáng quý. Người thanh lịch không chỉ có cử chỉ tao nhã, lịch sự mà phải là một người có hiểu biết sâu sắc, có cách ứng xử đúng mực, duyên dáng, đáng yêu, tức là người đó phải hội đủ các yếu tố về nội dung và hình thức.

Đó chính là dấu ấn phong cách người Hà Nội được lưu giữ bền bỉ trong tâm hồn, tính cách của chị bất kể sự khắc nghiệt của chiến tranh. Người Hà Nội luôn có lối ứng xử rất đặc biệt. Cách nói chuyện “thưa gửi, vâng dạ” với đôi chút rào đón, lời xin lỗi “nói vô phép” trước khi có thể làm phiền ai, lời cám ơn “quý hóa quá” khi nhận được chút ít quan tâm giúp đỡ… thường bị người vùng khác nhận xét là khách sáo, thiếu chân tình, kiểu “thoang thoảng hoa nhài”.

Người Hà Nội xưa nay vẫn nổi tiếng mặc đẹp, cái đẹp thể hiện ở sự gọn gàng, chỉnh tề và trang nhã

Đó có phải là nét riêng không, nếu có, phải chăng là nét thanh lịch của họ trong giao tiếp ứng xử với tự nhiên và giữa cộng đồng?

Người Hà Nội biết tiếp thu có sàng lọc tiếng nói của mọi miền đất nước, giữ lại những gì tinh túy nhất nên lời nói lưu loát, nhã nhặn lại ý nhị, tôn trọng người đối thoại. Mặt khác, người Hà Nội rất sành ăn uống, họ đã nâng việc nấu ăn lên thành nghệ thuật ẩm thực.

Món ăn Hà Nội ngon từ cách chế biến, từ chút gia vị, nước chấm cho đến cách bày biện đẹp mắt, gợi cảm mà không phàm tục và khi ăn cảm thấy thích thú. Người Hà Nội thích ăn uống thanh cảnh, nhưng không quá cầu kỳ. Miếng thịt nên xắn nhỏ, khi gắp thì vừa bát. Trứng cũng thế, ít ai bỏ cả quả trứng vào bát cơm mà không cắt nó ra làm đôi, vì hình ảnh “bát cơm quả trứng” chỉ dành cho người đã khuất.

Đặc biệt, người phụ nữ Hà thành càng phải cẩn trọng trong cách ăn uống, ăn quả chuối, hay bắp ngô thì cũng bẻ làm đôi, tách thành hạt ăn trong miệng một cách từ tốn. Chỉ một dẫn chứng nhỏ này cho thấy ngày xưa hoàn toàn khác với cách ăn uống của một số người ở Hà Nội hiện nay như ăn chuối thì bóc cả quả. Ăn thịt thì cứ “nhằm miếng to, so miếng bé”, ăn uống nhồm nhoàm, ồn ào, vừa ăn vừa văng tục, nói phét.

Thường thấy ở các bữa nhậu, chỗ ngồi ăn thì trên xương xẩu, dưới đất giấy ăn trắng xóa, trông rác rưởi, bề bộn cứ điềm nhiên ngồi ăn uống một cách ngon lành như trên… một đống rác.

Người Hà Nội thường ngày vốn đã cầu kỳ trong chuyện ăn uống. Vào các dịp lễ tết hay khi nhà có việc, mâm cỗ càng được chú trọng bởi nó không đơn thuần chỉ là chuyện ăn mà cao hơn nó thể hiện bộ mặt của gia đình, dòng tộc. Vào khoảng đầu những năm 20 của thế kỷ trước, khi xã hội có sự phân cấp giàu nghèo rõ ràng thì cũng là lúc xung quanh bữa ăn của người Hà Nội có nhiều chuyện để nói nhất từ cỗ bàn, hiếu hỷ cho đến những bữa cơm thường ngày.

Nhiều gia đình Hà Nội vẫn giữ được nếp xưa.

Ngày xưa, người Hà Nội quan niệm rằng: “Thịt thái không vuông vắn thì không ăn, chiếu trải không ngay ngắn thì không ngồi”. Như một quy ước ngầm, phong cách ăn uống của người Hà Nội được gắn với sự giáo dục, gìn giữ cho nết người điềm đạm mà từ tốn.

Bên cạnh đó, tính cách thanh lịch đó thể hiện ở cách ứng xử văn hóa mà cụ thể là trong cách nói năng, giao tiếp… Người Hà Nội xưa ăn mặc giản dị và thanh nhã lắm. Khi ra đường hoặc khi có khách đến nhà, đàn ông thường mặc áo sơmi (thay cho áo cánh), âu phục thay cho áo dài, khăn xếp truyền thống ở những dịp lễ trọng.

Phụ nữ khá giả thì mặc áo dài nền nã mà kín đáo, người nghèo áo dù có rách nhưng miếng vá rất ngay ngắn, đúng màu vải, màu chỉ và luôn sạch sẽ, thế nên mới có câu “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Trong giao tiếp, người Hà Nội xưa có đặc điểm cách ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép:

Hào hoa mà không kênh kiệu, khoe vẻ giàu sang.
Phong nhã mà không lề mề, chậm chạp, lù dù.
Linh hoạt mà không xấc xược, láu lỉnh, kệch cỡm.
Vui tươi duyên dáng mà không suồng sã, lẳng lơ.
Vừa thông minh, lịch thiệp mà không ba hoa, hời hợt.

Có thể thấy sự chững chạc, khiêm nhường, vừa ân cần, tế nhị… khiến cho ai đó mỗi khi gặp gỡ, giao thiệp đều cảm thấy hài lòng, quý trọng và cảm kích những giây phút hội ngộ đầy thoải mái. Khi ra về vẫn luyến tiếc và mong sao có dịp tái ngộ, hàn huyên. Khi gặp người quen thì tươi cười chào hỏi, dù người đó ít tuổi hơn, vai vế trong họ hàng và xã hội có kém hơn… Lại càng chủ động hỏi han ân cần để kẻ dưới khỏi tủi thân hoặc chê trách.

Nhiều gia đình Hà Nội vẫn giữ được nếp xưa

Hay, đối với các vị đáng bậc cha chú, người Hà Nội thanh lịch phải ngả mũ chào, tỏ lòng tôn kính với mong muốn được phụ giúp việc gì đó có ích để các bậc trên được hài lòng về con cháu.

Tiếc cho thanh lịch

Nhưng nay đã khác, có một câu mong ước cửa miệng của không ít thế hệ trước nuối tiếc về một thời: “Bao giờ cho đến ngày xưa”, tiếc cho tính thanh lịch của người Tràng An. Có thể, trong cuộc sống hiện đại, gấp gáp, để chê một Hà Nội hiện nay có nhiều cái kém cỏi, chướng tai gai mắt, người ta thường so sánh sự chuẩn mực của thời xưa cũ với ngày nay.

Trước hết, cần hiểu “người Tràng An” bao gồm những ai và tại sao người Hà Nội – Tràng An lại được đề cao đến vậy? Thật khó mà xác định được điểm mốc nào để gọi là người Hà Nội gốc. Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội hay có ông bà cha mẹ ở Hà Nội Người Hà Nội là những người đã sống ở đây từ trước năm 1945 hay trước 1954, 1975?

Hà Nội thay đổi rất nhiều so với trước kia, gặp người Hà Nội chính gốc thì khó vô cùng, phần lớn là “Hà lội”, ở Hà Nội một vài năm cũng đã thành “mác” người Hà Nội, không lại sợ mình mang tiếng “quê”. Khách quan mà nói tính thanh lịch mai một cũng vì sự thiếu ý thức của một bộ phận người mà thôi.

Ở Thủ đô, bất cứ có hình ảnh phản cảm nào là người ta lại mỉa mai người Hà Nội thế này, người Hà Nội thế kia… gây tiếng xấu, hình ảnh của người thủ đô cứ thế mà mất dần. Ngoài phố không khó bắt gặp những người cởi trần, ăn mặc hở hang, đi vệ sinh bừa bãi, đi xe máy rất nghênh ngang coi thường pháp luật. Trong cách giao tiếp của người ở thủ đô đã khác xưa rất nhiều, rất ít khi thấy được tính đối nhân xử thế có văn hóa giữa đường.

Tất cả chỉ nói lên một điều là cốt lõi trong cái văn hóa này vẫn là sự hoang dã, sơ khai, không khó thể bắt gặp những hình ảnh phản cảm nơi công cộng tất cả được giải quyết trực tiếp bằng miệng, bằng vũ lực, thậm chí là thù hằn đến giết nhau, chỉ vì một cái nhìn vu vơ, một cú va chạm nhỏ…

Bàn về văn hóa và phong cách sống của người Hà Nội xưa và nay, họa sĩ, nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng cho rằng, đời sống văn hóa của thủ đô đã kém đi một cách nghiêm trọng, kể từ sau khi Hà Nội đổi mới, phong cách sống thanh lịch, ăn uống nhẹ nhàng, nói năng lịch sự, ăn mặc thì giản dị, kín đáo mà tinh tế của người Hà Nội thì chỉ có từ thời trước chiến tranh phá hoại năm 1965 – cái thời mà Hà Nội chỉ nhỏ bé với vài vạn người ở thành phố và bốn huyện ngoại thành.

Do quá trình nhập cư, đô thị hóa nhanh chóng cũng là nguyên nhân của sự “đồng hóa” lẫn nhau bởi thói quen luộm thuộm, dung tục trong giao tiếp của một bộ phận người lao động không có điều kiện học hành, rèn giũa đến nơi đến chốn. Một phần vì những định hướng văn hóa về lối sống trong xã hội với con người dường như chẳng có mấy sức thuyết phục. Một phần vì giáo dục của nhà trường, yếu tố dạy người kém cỏi quá.

Một phần nữa do sự tác động của những văn hóa phẩm lai căng, thô thiển, thô lậu mà tiếc thay, người ta cứ ảo tưởng đó mới là văn minh, hiện đại…

Người Hà Nội hôm nay nói đến thanh lịch, trước hết cần tạo được nếp sống có văn hóa từ trong gia đình đến ngoài xã hội, từ sinh hoạt cá nhân đến ứng xử nơi công cộng. Làm sao loại bỏ được lối sống tùy tiện theo thói quen ở địa phương khác và từng bước tự giác tuân thủ pháp luật và những quy ước của cộng đồng như một thị dân đích thực.

Xây dựng “Nếp sống văn hóa người Hà Nội” đã được xã hội quan tâm từ nhiều năm nay nhưng kết quả nghiên cứu vẫn chưa được như mong muốn, thật tâm đắc với ý kiến của một nhà nghiên cứu văn hóa: “Trong cách ăn mặc, nói năng, giao tiếp ứng xử… nếu như mỗi người “biết sợ”, “biết nể”, “biết nhịn” và đặc biệt “biết ngượng” thì có lẽ cũng đủ cho người Hà Nội tạo được ấn tượng tốt đẹp lắm rồi trong lòng bè bạn.

M.K (NLM)

Thứ 2, ngày 07 - 01 - 2013

Lượt xem (96)

 
 
Warsaw, thành phố sống dậy

 

 

 
image

Tôi đến thăm thủ đô Warsaw của Balan trong một chuyến du lịch Đông Âu dài ngày. Từ lâu Ba lan đối với tôi là niềm cảm mến chân thành về một dân tộc bị trị đã quả cảm đứng lên thực hiện cuộc nổi dậy chống bạo cường Đức quốc xã vào thế chiến thứ hai. Nhưng trời không chiều lòng người và hơn 200 ngàn dân Ba Lan đã bị tiêu diệt trong cuộc tắm máu đó. Họ tin tưởng vào lời hứa hẹn của liên minh Nga và bị phản bội dù quân Nga đã đến đóng bên kia sông Wisla. Đoạn hồi ký lịch sử Ba Lan này đã được quay lại trong cuốn phim “Pianist” với nhân vật Wladyslaw Szpillman. Anh là một nhạc công dương cầm tài năng mang hai dòng máu Ba Lan-Do Thái và bắt đầu bi kịch đời mình khi quân đội Nazi bỏ bom như trút nước xuống Warsaw, rồi tiến chiếm Ba Lan.
 
image
Cuộc đời tù túng, trốn chạy không ngừng trước những săn đuổi ráo riết của quân Đức chẳng làm phai nhoà niềm đam mê, bầu nhiệt huyết cháy bỏng của anh với âm nhạc. Vào tháng 11 năm 1940, anh là nhân chứng sống thấy được những cảnh man rợ, ngược đãi con người không nhân tính trong trại tập trung người Do Thái (Warsaw Ghetto), ở Warsaw, nơi có giam cầm cha mẹ anh. Anh cũng chứng kiến cuộc nổi dậy và những thây người ngã xuống khi dân chúng Ba Lan bị thất bại và đàn áp. Những người Do Thái cũng bị tập trung ở đây trước khi đưa qua phòng hơi ngạt.
 
image
Hàng ngàn người Do Thái bị đưa vào trại tập trung Warsaw
 
 
Tôi cũng không thể quên nhân vật Abel Rosnovski người Ba Lan trong tác phẩm bán chạy nhất khắp thế giới năm 1979 “Kane & Abel” của Jeffrey Archer. Cuốn tiểu thuyết gây nhiều ấn tượng với độc giả, xoay quanh hai nhân vật sinh ra cùng thời điểm, từ hai hoàn cảnh sống, hai số phận khác nhau, lớn lên cùng đạt thành công trong cuộc sống nhờ vào sự quyết tâm. Tuy nhiên nhân vật Abel là người cùng khổ từ lúc lọt lòng, nhờ thông minh lại có nhiều nghị lực đấu tranh nên sống còn sau cuộc chiến giữa Đức và Ba Lan.
 
image
Abel đến được Hoa Kỳ lập nghiệp và leo đến tận cùng của đỉnh danh vọng. Độc giả có thể nhận ra Abel như một người mẫu điển hình trong rất nhiều người di dân Ba Lan đã di cư đến New York, hay Chicago Hoa kỳ vào những năm cuối đệ nhị thế chiến. Họ bị ly tán đi khắp thế giới và chăm chỉ cần cù lập nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng.
image
Người bị hành quyết trong cuộc nổi dậy
Warsaw hay Warszawa, cái tên được tạo bởi Wars (người đánh cá), và Sawa (nàng tiên cá trên sông Wisla) là thành phố lớn nhất cũng là thủ đô của Ba Lan, một trong những trung tâm thương mại phát triển nhất của Đông Âu. Thành phố Phương Hoàng (một tên khác của Warsaw) này là một kết hợp của nhiều kiến trúc. Gồm các nét nghệ thuật Gô-tích (Gothic) trước Trung Cổ, thời Phục Hưng với Renaissance, kiểu La Mã với Ba-rôc (baroque) và  pha trộn cả Hy Lạp cổ với Neoclassical nữa. Đồng thời những toà nhà mang nét kiến trúc Nga cũng hiện diện, điển hình là Cung Văn Hoá.
 
image
Cung văn hoá
Theo chân đoàn du lịch, chúng tôi đi thăm vùng cố đô (old town) của Warsaw. Sau hai cuộc thế chiến, Phố Cổ như một bãi hoang địa hư hỏng đến 85%, giờ đã rùng mình sống lại, đẹp hơn, trang nhã hơn trong nét kiến trúc có hơi hướng hội họa cổ điển Canalletto, nửa nguyên thủy, nửa tân tạo, bừng sáng lóng lánh tươi. Nhìn vẻ hài hoà, màu sắc nhu hợp nhưng không thiếu dáng uy vĩ của các ngôi lầu đài, cung điện, thánh đường, du khách không thể không cảm phục tinh thần bất khuất của người dân Ba Lan. Họ đã xây dựng, tái thiết lại đô thị của họ bằng tiền quyên góp của người dân. Lòng yêu nước, nỗi tự hào dân tộc đã nuôi sống các cuộc trùng tu cố đô bắt đầu từ những năm 1950. Riêng cung điện Hoàng Gia khởi sự sau năm 1970. Nhờ những bản vẽ và hoạ đồ từ thế kỷ 18 còn để lại, việc kiến thiết trở nên dễ dàng hơn. Cư dân phần lớn dời về Phố Mới (new town), nhường lại Phố Cổ cho thương mại cùng những dịch vụ du lịch vì số lượng du khách ngày càng tăng.
 
 
image
Cung điện Hoàng Gia Warsaw
Chúng tôi vào trong Cung Điện Hoàng Gia và được nhìn tận mắt kiến thiết huy hoàng của cung điện với những hoa văn trang trí khi thì mạ vàng, khi thì dịu nhẹ, tươi mát với sắc xanh lục êm êm. Tường phần lớn trần thiết với những bức tranh hoạ quang cảnh của đô thị Warsaw xưa do các hoạ sĩ thế kỷ thứ 19 vẽ lại. Các câu chuyện và biến cố lịch sử qua các triều đại được miêu tả và tường thuật tỉ mỉ bằng các cây cọ lừng danh của Ba Lan.
 
Tôi được đi lại trên con đường có lát đá (hầu hết những con đường cổ ở Âu Châu đều lát đá) thật râm mát với những vòm dẻ gai rụng trái khắp nơi. Lạ, Âu châu nơi nào cũng có loại cây mang thứ trái xù xì gai như chôm chôm này.  Mỗi lần trái chín khô rơi xuống, cái hạt dẻ nâu bên trong lại mở ra, trông rất ngon mắt. Chim chóc rất thích hạt dẻ gai, nhưng con người ăn nhiều không được vì nó chứa chất độc tannins. Hồi thế kỷ thứ 19, người Anh đã dùng dầu của nó để xào nấu và đốt đèn.
 
image
Con đường Hoàng gia này là một trong những đại lộ rộng nhất của châu Âu, nối Công viên Lazienki đến Thành Cổ. Ngày xưa chỉ có vua chúa và các gia đình quý tộc mới được đi. Nó dẫn đến các kiệt tác kiến trúc - nhà thờ, cung điện, nhà hát - đã được xếp hạng của thủ đô xứ Ba Lan. Đó là Cung điện Hoàng gia Warszawa tại Quảng trường Thành cổ, nơi sừng sững và vươn cao bức tượng vua Zygmunt Đệ nhị trên chiếc cột đá cao 22 mét; đây chính là vị vua đã dời thủ đô Ba Lan từ cố đô Cracow về Warszawa vào thế kỷ XVI. Sau này trong thời Nga chiếm đóng con đường chỉ dành cho những chức sắc và gia đình có quyền hành trong Đảng mà thôỉ.  Khu quảng trường coi như Paris thu nhỏ này cũng là nơi tổ chức các buổi hội họp và lễ lạc thời Liên Bang Sô Viết thống trị.  Cũng chính nơi này chúng tôi được xem những bức ảnh chụp và tận mắt thấy những lóng xương giày dép, vật dụng của những người Do Thái bị thảm sát ngày trước. Khi dân Ba Lan tái thiết thành phố, họ đã khai quật và tìm thấy xương cốt cũng như dấu vết của các sắc dân Do Thái, Ba Lan, Ukraine đã bị giết.
 
image
Phố cổ warsaw
Sau đó chúng tôi có đến thăm đài tưởng niệm cuộc nổi dậy dành độc lập tháng 8 năm 1944 với những bức tượng điêu khắc tường thuật lại diễn biến cuộc chiến. Hình ảnh quân Ba Lan chui lên từ những đường hầm đã bị quân Đức bắt, được mô tả tỉ mỉ qua các bức tượng. Người hướng dẫn viên du lịch không ngần ngại bày tỏ nỗi phẫn uất lịch sử qua tấn bi kịch gần nửa thế kỷ, từ năm 1944 tới năm 1989, dân tộc Ba Lan cay đắng với thân phận vừa thoát khỏi ách phát xít lại rơi vào ách của hệ thống toàn trị cộng sản do Liên Xô đứng đầu.
Norman Davies, sử gia Anh, đã nói trên nhật báo Ba Lan Dziennik:
 
“Một số vấn đề lịch sử của Ba Lan cho đến ngày hôm nay bị làm ngơ khủng khiếp ở phương Tây. Câu hỏi đặt ra là làm sao đánh động được hàng triệu người không phải là kẻ thù của lịch sử Ba Lan, mà đơn giản là họ không biết gì cả. “Katyn” không hợp với sự mường tượng của họ về Thế chiến II: phía Thiện, tức là những người chống lại Đức Quốc Xã – và chỉ một phía Ác: phát xít Hitler. Sự thể là, trong cùng thời gian ấy còn một bạo chúa hãi hùng khác, đó là Liên Xô – mà trong thực tế người ta có biết đến nhưng rất hời hợt. Sau khi Đức đổ bộ, Ba Lan còn bị cả quân Xô Viết tấn công”.
 
image
Viếng thăm một quốc gia, du khách không những được mục kích những kiến trúc, đền đài, cung điện, phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, thơ mộng, du khách còn được hiểu biết thêm về văn hoá, kinh tế và chính trị của nước đó. Bi kịch lịch sử của Ba Lan là một bài học quý giá cho những sử gia thế giới và những ai ưa thích môn lịch sử muốn tìm hiểu thêm. Ba Lan còn nhiều nơi chốn và nhân vật lừng lẫy sẽ được nhắc đến trong bài viết tới của chương ký sự Ba Lan này, xin độc giả đón đọc.

Chủ nhật, ngày 06 - 01 - 2013

Lượt xem (95)

 
 
Bảo vật Quốc gia độc đáo

 

  Trống đồng Ngọc Lũ là điển hình nhất trong hệ thống trống đồng Việt Nam, thạp đồng Đào Thịnh tiêu biểu về tín ngưỡng phồn thực, còn tượng Bồ tát Tara là đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình.
'Nhật ký trong tù' trở thành Bảo vật Quốc gia / Chủ quyền biển đảo trên báu vật thời Nguyễn

Trống đồng Ngọc Lũ (niên đại khoảng 2.500 năm) là một trong những chiếc trống đồng Đông Sơn có kích thước lớn (đường kính 79 cm, cao 63 cm). Đây là trống điển hình nhất trong hệ trống đồng Việt Nam, đồng thời cũng là tiêu biểu cho đỉnh cao phát triển rực rỡ nhất của nền văn hóa Đông Sơn. Trống đã hội tụ đầy đủ những tri thức khoa học của thời đại cũng như tài năng nghệ thuật và tâm hồn người Việt cổ. Hoa văn trang trí trên trống Ngọc Lũ có thể được coi là một chuẩn mực về sự kết hợp hài hòa những đặc trưng, phong cách nghệ thuật trang trí đồ đồng Đông Sơn. Ảnh: Baotanglichsu.
Thạp đồng Đào Thịnh là vật dụng tiêu biểu về tín ngưỡng phồn thực của người Việt, và được tình cờ phát hiện năm 1960, bên bờ sông Hồng tại xã Đào Thịnh (Chấn Yên, Yên Bái). Ở vòng trang trí thứ 7, có 8 con chim được chia thành 4 đôi đang bay nối tiếp nhau, ngược chiều kim đồng hồ. Khoảng trống ở giữa mỗi đôi chim có gắn cặp tượng nam nữ đang giao cấu. Thân thạp là khối hình trụ xuôi nhỏ về đáy được trang trí nhiều vòng tròn bằng các hoa văn hình học, hình các loại chim và bò sát, hình người hóa trang đứng trên thuyền với những tư thế khác nhau rất sinh động. Ảnh: Baotanglichsu.
Trong hàng trăm cổ vật thời Tây Sơn, đáng chú ý nhất là chiếc trống đồng đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) bởi hình dáng đặc biệt, tính độc bản cùng những chi tiết trang trí nổi đặc sắc. Trống có khối hình trụ được miêu tả theo kiểu bịt da hiện đại. Mặt và tang trống liền nhau ở giữa có 2 vòng tròn, xung quanh là mặt phẳng, không có hoa văn trang trí. Thân trống nổi bật với những trang trí đúc nổi phong phú và phức tạp. Vương triều Tây Sơn chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, do đó dấu ấn về nền mỹ thuật để lại mờ nhạt hơn các triều đại khác. Tuy nhiên trống đồng Cảnh Thịnh là ngoại lệ, một sản phẩm độc đáo, thể hiện được tài năng và óc sáng tạo cũng trình độ thẩm mỹ của con người khi đó. Ảnh: Baotanglichsu.
Trong số những hiện vật ấn chương còn lưu giữ, Môn hạ sảnh ấn được coi là ấn đồng cổ có niên đại rõ ràng nhất. Ấn bằng đồng, núm được làm theo hình bia đá, cao 8 cm. Phần đế ấn là 7,3 cm, núm cầm trên rộng 3,7 cm và dày 1,2 cm. Mặt dấu hình vuông khắc 4 chữ Triện. Ấn được đúc năm Long khánh thứ 5 đời Trần Duệ Tông (1377) và được dùng đóng trên những văn bản hành chính quan trọng từ thời Trần Phế Đế về sau. Ảnh: Baotanglichsu.
Kiệt tác bình gốm hoa lam vẽ thiên nga tìm thấy trên con tàu đắm ở Cù Lao Chàm được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá cao. Bình có kiểu dáng lạ, những hình ảnh trang trí mang yếu tố thuần Việt. Men trên bình gốm là loại men Lam Hồi, có màu xanh mực Cửu Long, được nghệ nhân sử dụng phổ biến cho lối vẽ công bút. Ảnh: Baotanglichsu.
Tác phẩm Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Cuốn nhật ký bằng thơ này được viết từ ngày 29/8/1932 đến ngày 10/9/1933 trong thời gian Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải khắp 18 nhà giam ở 13 huyện tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Nguyên gốc tập thơ chỉ là quyển sổ tay nhỏ, bìa xanh đã bạc màu, ghi bốn chữ 'Ngục trung nhật ký" kèm theo bốn câu thơ và hình vẽ hai nắm tay bị xích; bên trong gồm 133 bài thơ chữ Hán cùng một số ghi chép. Ảnh: Baotanglichsu.
Năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay vào viết 'Tuyệt đối bí mật' chúc. Sau khi qua đời, thư ký của Người là ông Vũ Kỳ đã chuyển tài liệu này tới Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại một cuộc họp kín đặc biệt ngày 3/9/1969. Tài liệu nằm trong một phong bì to ghi 'Tuyệt đối bí mật' - đó chính là Di chúc của Hồ Chủ tịch. Ảnh: Tư liệu.
Tượng phật Đồng Dương là tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu cho kỹ thuật đúc đồng tinh xảo kết hợp nghệ thuật tạo hình của nền văn hóa Chăm Pa. Tháng 4/1911, nhà khảo cổ Henri Parmentier (Pháp) đã phát hiện ra pho tượng Phật tại xã Bình Định (Thăng Bình, Quảng Nam). Sau hơn 100 năm, hiện vẫn chưa có tượng Phật đồng nào vượt qua được hai kỷ lục cổ nhất và mang vẻ đẹp lạ nhất của tượng phật Đồng Dương. Đây thực chất là pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cao 1,22 m đứng trên bệ tròn hai tầng tạc cánh sen. Tượng được tạc vào thế kỷ thứ 3, theo tư thế đứng đang thuyết pháp. Ảnh: Daophatngaynay.
Tượng Bồ tát Tara (cao 1,14 m) là tượng bằng đồng lớn nhất của nghệ thuật Chăm, thể hiện hóa thân nữ của Bồ tát Avalokitesvara. Tượng có niên đại cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10 ở Đồng Dương (Quảng Nam). Tượng khoác sarong hai lớp, từ thắt lưng dài đến mắt cá chân. Bồ tát được thể hiện đứng thẳng, hai tay đưa ra phía trước. Ngoài nét độc đáo của chiếc váy thì nét đẹp ngoại hình của nhân vật khiến cho tác phẩm này đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình. Đó là vẻ đẹp của người phụ nữ có ngoại hình cân đối. Tượng mình trần, cổ cao có ba ngấn đẹp, đôi vai rộng càng làm nổi bật chiếc eo thon nhỏ nâng cặp vú tròn căng đầy sức sống. Ảnh: Chammuseum.
Bộ Cửu đỉnh Huế là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, có giá trị cao về mặt văn hóa và lịch sử, chứa đựng tư tưởng của một thời đại, tâm tư và ý niệm của con người về đất nước, vũ trụ và thiên nhiên. Cả 9 chiếc đỉnh đều có dáng chung giống nhau: bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới bầu có 3 chân. Ở phần cổ đỉnh, bên phải ghi năm đúc đều là Minh Mạng thập lục niêm Ất Mùi (1835), bên trái ghi trọng lượng từng đỉnh có khác nhau xê xích từ 3.201 cân ta đến 4.307 cân ta. Vua Minh Mạng đã cho khắc 3 vùng biển của Tổ quốc lên 3 đỉnh cao, to và quan trọng nhất: biển Đông ở Cao Đỉnh, biển Nam ở Nhân Đỉnh và biển Tây ở Chương Đỉnh. Trong ảnh là hình chạm nổi Đông Hải (biển Đông) trên Cao Đỉnh, với lãnh thổ bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ảnh: Nguyễn Đông.
Trưa 30/4/1975, cánh cổng sắt lớn Dinh Độc lập sập đổ, toàn bộ nội các ngụy quyền phải đầu hàng vô điều kiện. Lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc Dinh Độc lập mở ra một trang sử mới trong lịch sử Việt Nam sau nhiều năm chiến tranh khốc liệt. Vào thời khắc lịch sử đó, hai chiếc xe tăng huyền thoại mang số hiệu 390 và 843 đã húc đổ cánh cổng của Dinh Độc Lập. Chiếc xe tăng 390 vào sân Dinh Độc Lập đầu tiên vì chiếc 843 lúc đó bị kẹt tại cửa ngách bên trái. Hình ảnh do một nữ phóng viên người Pháp chụp được ngay thời khắc lịch sử đó. Ảnh: Dinhdoclap.

Bình Minh

Thứ 5, ngày 04 - 10 - 2012

Lượt xem (211)

 
 
Quê hương

"Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều                                         


Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học 
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ 
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè

Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa mưa đêm
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương có ai không nhớ ..."
(Trích thơ Đỗ Trung Quân)



Thật may mắn cho những đứa trẻ được sinh ra, lớn lên và có cuộc sống đơn sơ, giản dị nơi miền quê! Nhờ được sống tự do giữa miền quê trong những mái nhà được xây lợp từ tranh và lá của thiên nhiên, được hít thở bầu không khí trong lành của tự nhiên, được nuôi dưỡng bằng hạt thóc, ngọn rau của tự nhiên nên từng tế bào của đứa trẻ được phát triển một cách tự nhiên. Khi lớn lên, con người ta dễ dàng có khả năng "kết nối" được với tự nhiên và yêu quý những giá trị đích thực thuộc về tự nhiên. Càng xa quê hương, con người ta càng thấy thương nhớ và yêu quê hương hơn - nơi đã từng chôn nhau cắt rốn và vun đắp tâm hồn tuổi thơ của họ.

Đáng thương thay cho những đứa trẻ "công nghiệp", được sinh ra trong những "chiếc hộp" bằng bê tông cốt thép, phải hít thở bụi bặm lẫn khói xe của chốn thành thị xa hoa và lớn lên bằng những thứ thực phẩm công nghiệp! Vì sống "mất kết nối" với tự nhiên nên tâm hồn đứa trẻ dễ bị khô cứng như bê tông và lạnh lùng, vô cảm như sắt thép!

Nếu có con nhỏ, nên đưa nó về sống ở miền quê bạn nhé!

DẾ MÈN

http://my.opera.com/hvsang/blog/2009/10/07/que-huong

Trang thơ văn nhạc hay :http://music.vietfun.com/tview.php?ID=561&cat=6

Thứ 4, ngày 02 - 05 - 2012

Lượt xem (337)

 
 
Ngọt ngào những bộ váy cưới ren tinh tế

Mùa Đông se lạnh làm cho con người cần hơn hơi ấm của người thương yêu thế nên mùa này được xem như là mùa cưới của các đôi uyên ương. Bạn có ý định cùng một nửa của mình dọn về ở chung với nhau chưa? Nếu đã có ý định đó hãy cùng tham khảo qua những bộ áo cưới xinh đẹp của Wedding Inspirasi dưới đây, biết đâu bạn sẽ chọn được một kiểu áo cưới ưng ý cho ngày trọng đại của mình.

Ảnh: Wedding Inspirasi

Thứ 6, ngày 02 - 12 - 2011

Lượt xem (326)