^_^VUA THỂ THAO HỘI AN

 

Kho ảnh khổng lồ về VN 1991-1993: Mộc mạc Hội An Hội An đầu những năm 1990 hầu như chưa xuất hiện trên bản đồ du lịch thế giới...thumb_flex-1397524860761370_file.jpgthumb_flex-1397524866500988_file.jpg


hhhthumb_flex-1397524568687768_file.jpgthumb_flex-1397524606162405_file.jpgthumb_flex-1397524662978728_file.jpgthumb_flex-1397524670162946_file.jpgthumb_flex-1397524686475928_file.jpgthumb_flex-1397524747444097_file.jpgthumb_flex-1397524753736678_file.jpgthumb_flex-1397524759186437_file.jpgthumb_flex-1397524764684749_file.jpgthumb_flex-1397524770367837_file.jpgthumb_flex-1397524776396942_file.jpgthumb_flex-1397524781932745_file.jpgthumb_flex-1397524787216566_file.jpgthumb_flex-1397524832818430_file.jpg

Thứ 3, ngày 15 - 04 - 2014

Lượt xem (26)

 
 
“GIẢI BÓNG ĐÁ VUA SÂN 5 – NĂM 2014 – LẦN 2”

thumb_flex-1397175942084368_file.pngthumb_flex-1397176045105101_file.jpg


Giải bóng đá Vua Sân 5 - 2014 sẽ bắt đầu khởi tranh vào 10.5.2014 tại Trung tâm bóng đá Nam Hải Vân, số 01 Đỗ Đăng Tuyển, Cẩm Lệ, Đà Nẵng. Quy tụ 64 đội bóng phong trào tranh tài, tổng giá trị giải thưởng lên đến 140tr, tường thuật trực tiếp trận chung kết trên DRT. 
Vòng sơ loại thi đấu loại trực tiếp chọn 32 đội vào vòng chung kết. 32 đội vào vòng chung kết sẽ được BTC trang bị đồng phục thi đấu.
------------------------------------
Đường dây nóng hướng dẫn hồ sơ đăng ký: 0511 3 684.888
------------------------------------
Năm nay, Vua sân 5 Đà Nẵng 2014 sẽ đồng hành cùng Quỹ từ thiện Balance Your Life cùng dự án tài trợ miễn phí cho 5 ca phẫu thuật hở hàm ếch cho trẻ em nghèo tại các vùng trên địa bàn Đà Nẵng và lân cận.
Đường dây nóng tiếp nhận các trường hợp bệnh nhi: 0905 18 2013
------------------------------------
thumb_flex-1397176163509874_file.jpgthumb_flex-1397176196409016_file.jpgthumb_flex-1397176585644477_file.jpgthumb_flex-1397176622286039_file.jpg


ĐIỀU LỆ
“GIẢI BÓNG ĐÁ VUA SÂN 5 – NĂM 2014 – LẦN 2”
 
 
CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Tên của giải:
“GIẢI BÓNG ĐÁ TRANH CÚP  VUA SÂN 5 - NĂM 2014 - LẦN 2”
Điều 2. Các đơn vị phối hợp:
       2.1.Đơn vị tổ chức và điều hành giải:  Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Nguyễn Phan Chánh
       2.2.Chỉ đạo chuyên môn: Phòng nghiệp vụ Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Đà Nẵng.
       2.3. Đơn vị truyền thông:
                   - Công ty Cổ Phần truyền thông Rồng Tiên Sa
                   - Mạng cộng đồng chia sẻ sự kiện thamgia.net
       2.4. Đơn vị thực hiện và vận động tài trợ: Công ty Cổ Phần truyền thông Rồng Tiên Sa
Điều 3. Mục đích của Giải:
       3.1. Kết nối – xây dựng người yêu bóng đá trên địa bàn thành phố, phát huy tinh thần xã hội hóa thể thao trong cộng đồng.
       3.2. Xây dựng một giải đấu chất lượng, đáp ứng một cách tích cực nhu cầu tập luyện và thi đấu bóng đá của đông đảo thanh niên, học sinh, sinh viên, công nhân viên chức trên toàn thành phố Đà Nẵng
       3.3. Tạo sân chơi lành mạnh, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa cộng đồng trên toàn thành phố.
Điều 4. Yêu cầu của Giải:
          4.1. Kết nối - Xây dựng người yêu bóng đá trên địa bàn thành phố, phát huy tinh thần xã hội hóa thể thao trong cộng đồng.

4.2. Đây là một giải đấu có quy mô lớn, BTC đề nghị các đội bóng tham gia thi đấu tuyệt đối tuân thủ Điều lệ giải. Các đội bóng thi đấu với tinh thần giao lưu, tích cực, cao thượng, đoàn kết và fair play.
       4.3. Trưởng đoàn của mỗi đội chịu trách nhiệm trước BTC về mọi vấn đề của đội bóng trong suốt mùa giải.
 
CHƯƠNG II. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ GIẢI
Điều 5. Đối tượng tham dự giải:
       5.1. Các đội bóng trực thuộc các cơ quan, ban ngành trên thành phố Đà Nẵng và các tỉnh thành khác.
       5.2. Các đội bóng trực thuộc các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và các tỉnh thành khác.
       5.3. Các đội bóng là Học sinh- Sinh viên trực thuộc các đơn vị trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.
       5.4. Các đội bóng tự lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và các tỉnh thành khác.
Điều 6. Những đối tượng không được tham dự giải:
       6.1. Các VĐV dưới 18 tuổi
       6.2. Các VĐV là các cầu thủ ở các tuyến trẻ, hạng nhất và chuyên nghiệp trên địa bàn nước Việt Nam kể từ năm 2011 đến nay
Điều 7. Quy định về đăng kí tham dự:
       7.1. Mọi cầu thủ từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tham dự.
       7.2. Mỗi cầu thủ đăng ký chỉ được tham gia đăng kí và thi đấu với một đội bóng. Trong trường hợp phát hiện cầu thủ đăng ký hoặc thi đấu cho hơn 1 đội
bóng, BTC sẽ đình chỉ thi đấu cầu thủ đó và các đội bóng đã đăng ký danh sách có cầu thủ vi phạm quy định đăng ký ra khỏi giải.
       7.3. Mỗi đội bóng được đăng kí tối đa 10 cầu thủ, 1 trưởng  đoàn và 1 Huấn luyện viên.
       7.4. Mỗi doanh nghiệp, mỗi đơn vị chỉ được đăng kí 01 đội.

7.5. Đối với các đội bóng là học sinh, sinh viên phải có xác nhận của nhà trường.
       7.6.Các đội bóng tự lập phải có một đơn vị doanh nghiệp bảo trợ, xác nhận và chịu trách nhiệm về đội bóng mình bảo trợ hoặc phải có xác nhận của địa phương.
       7.7. Các đội bóng phải tự mua bảo hiểm cho VĐV.
7.8. Hồ sơ tham dự giải bao gồm:
              7.8.1. Phiếu đăng kí tham dự (theo mẫu)
              7.8.2. Danh sách VĐV có dán ảnh thẻ (3 x 4) kèm theo tên cầu thủ và ghi đầy đủ ngày tháng năm sinh, chức vụ (10 VĐV, 1 HLV và 1 trưởng đoàn), có xác nhận của Lãnh đạo hoặc xác nhận của nhà trường (theo mẫu)
              7.8.3. Có phần giới thiệu về đội bóng gởi kèm theo hồ sơ và có logo đội bóng gởi về mail của Ban tổ chức.
       7.9. Thời hạn đang ký tham dự Giải: Từ ngày 05/04/2014 đến hết ngày  26/04/2014
       7.10. Địa điểm đăng ký và nhận hồ sơ: Tại Văn phòng Công ty Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Nguyễn Phan Chánh. Địa chỉ: Số 01 - Đỗ Đăng Tuyển, Phường Khuê Trung, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng.
       7.11. Số lượng đội bóng đăng ký tối đa 64 đội. Sau khi đã đăng ký đủ 64 đội bóng, Ban tổ chức sẽ không nhận thêm  bất kỳ hồ sơ đăng ký nào nữa. (BTC sẽ ưu tiên những đội nộp hồ sơ đăng ký sớm nhất).
       7.12. Các đội chỉ đăng ký VĐV một lần khi nộp hồ sơ (không thay đổi VĐV)
       7.13.Số điện thoại liên hệ:
                             0905. 920. 269 (Mr Hưng - Trong giờ hành chính)
                             Mail: Vuasan5.2014@gmail.com
                             Facebook: Tham gia vua sân 5
 
CHƯƠNG III. PHƯƠNG THỨC THI ĐẤU – CÁCH TÍNH ĐIỂM
Điều 8. Hình thức thi đấu
       8.1. Các đội thi đấu theo hình thức loại trực tiếp. Đến vòng 1/8 các đội còn lại sẽ đá lượt đi lượt về (không tính lượt sân nhà và sân khách)   
8.2. Trận chung kết và tranh ba, tư sẽ đá một lượt.

Điều 9. Luật thi đấu và các quy định khác:
       9.1. Áp dụng luật thi đấu bóng đá 5 người mới nhất của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.
       9.2. Bóng thi đấu: Bóng Động Lực số 4
9.3. Trang phục thi đấu: Mỗi VĐV đăng ký một số áo không thay đổi trong suốt thời gian tham gia giải. Các đội tự trang bị đồng phục cho đội mình trong các vòng đấu.
       9.4. VĐV thi đấu bằng giày chuyên dùng đá sân cỏ nhân tạo.
       9.5. Thời gian thi đấu: 2 hiệp, mỗi hiệp 20 phút. Giữa 2 hiệp có thời gian nghỉ 10 phút.
       9.6. Sân thi đấu: Cỏ nhân tạo tại Nam Hải Vân Sports
       9.7.Chỉ có 1 HLV, 1 trưởng đoàn và VĐV có tên trong danh sách mới được vào sân, các cầu thủ dự bị phải mặc áo bip để phân biệt không trùng màu
 
CHƯƠNG IV. THỜI GIAN THI ĐẤU VÀ ĐỊA ĐIỂM THI ĐẤU
Điều 10. Thời gian – địa điểm thi đấu:
10.1. Thời gian:
       - Thời gian thi đấu  : Từ 18h30 đến 20h30
       - Họp báo               : 08h30 ngày 02/05/2014 (Có thông báo của Ban tổ chức)
       - Vòng loại trực tiếp: Dự kiến từ ngày 10/05/2014 đến ngày 25/05/2014
       - Khai mạc giải       : 17h30 Ngày 25/05/2014 (Nếu có thay đổi, BTC sẽ thông báo sau)
       - Bế mạc giải           : 19h30 Ngày 15/06/2014
10.2. Địa điểm thi đấu:
              Sân bóng đá Nam Hải Vân tại số 01 Đỗ Đăng Tuyển, Phường Khuê Trung, Quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng.
Điều 11.Trọng tài:
          BTC mời trọng tài 

CHƯƠNG V: KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT
Điều 12. Khen thưởng:
       Tổng giá trị khen thưởng lên đến 140.000.000
        12.1. Chức vô địch :  Cờ + Cúp + Huy Chương + Tiền thưởng
       12.2. Giải nhì                   :  Cờ + Huy Chương + Tiền thưởng
       12.3. Giải ba           :  Cờ + Huy Chương + Tiền thưởng
       12.4. Giải phong cách:    Cờ + Tiền thưởng 
       12.5. Giải cầu thủ vua phá lưới           : Cờ + Tiền thưởng
       12.6. Giải cầu thủ xuất sắc nhất                    : Cờ + Tiền thưởng
       12.7. Giải thủ môn xuất sắc nhất                  : Cờ + Tiền thưởng
        12.8. Giải thủ môn và cầu thủ xuất sắc nhất chỉ được xét khi đội bóng lọt vào vòng bán kết
       12.9. Mười sáu đội còn lại được BTC tài trợ áo quần thi đấu (bắt buộc các đội phải mặc trang phục này trong quá trình thi đấu)
        12.10. Ngoài ra các đội bóng còn có các giải thưởng khác và giải thưởng tăng lên tùy thuộc vào nhà tài trợ.
Điều 13. Kỷ luật:
13.1 Đối với cầu thủ:
       -Cầu thủ bị 02 thẻ vàng trong một trận đấu hoặc thẻ đỏ trực tiếp sẽ bị truất quyền thi đấu trận đó và trận kế tiếp
       - Trường hợp cầu thủ bị  thẻ vàng và sau đó bị 01 thẻ đỏ trực tiếp thì tính cầu thủ đó bị một thẻ vàng và 01 thẻ đỏ
       - Hành hung Ban tổ chức, trọng tài, đội bạn và các thành viên khác trước, trong và sau trận đấu thì ngoài bị xử lý theo pháp luật hiện hành, điều lệ giải...đương nhiên bị truất quyền thi đấu toàn giải và Ban tổ chức sẽ thông báo về cơ quan chủ quản đề nghị các hình thức xử lý thích đáng
- Mức phạt bằng tiền quy định như sau:
              + Thẻ vàng                         :          100.000 đồng /1 thẻ
              + Thẻ đỏ trực tiếp               :          300.000 đồng  /1 thẻ
              + 2 thẻ vàng thành thẻ đỏ   :          200.000 đồng /1 thẻ

13.2. Đối với đội bóng:
       -  Đội bóng bỏ cuộc một trận đấu bất kỳ ở vòng nào xem như bị loại khỏi giải
       - Đội bóng phải có mặt trước giờ thi đấu 15 phút để làm thủ tục thi đấu, nếu đúng giờ quy định không đủ vận động viên thi đấu theo như quy định thì bị loại khỏi giải
       - Đội bóng nào vi phạm quy chế đối tượng quy định tại điều 5 của Điều lệ giải hoặc đội bóng tự dừng trận đấu, không chấp nhận quyết định của trọng tài làm trận đấu không được tiếp tục thì đội đó coi như bỏ cuộc, bị loại khỏi giải
       - Chỉ có đội trưởng trên sân mới được quyền khiếu nại với trọng tài. Nhưng sau khiếu nại được ghi nhận và trọng tài đã xử lý thì phải chấp hành nghiêm túc
quyết định của trọng tài và BTC, tuyệt đối không ra khỏi sân để khiếu nại hoặc có hành vi chống đối khác
13.3.  Đối với trọng tài:
       Nếu tổ trọng tài điều khiển trận đấu không chính xác, thiếu trung thực, làm ảnh hưởng đến tinh thần thi đấu chung của giải, tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị đình chỉ 1 trận hay đến hết giải hoặc sẽ thông báo với cơ quan chủ quản của trọng tài đó xử lý
Điều 14. Khiếu nại
          -Đội bóng khiếu nại phải làm đơn khiếu nại, ghi rõ lý do khiếu nại và nộp cho BTC trong vòng 12h sau khi trận đấu kết thúc (kèm theo phí khiếu nại là 1.000.000 đồng).
          - Chỉ có trưởng đoàn mới có quyền khiếu nại.
          -Đội bóng khiếu nại có nhiệm vụ cung cấp thông tin, chứng cứ liên quan đến nội dung khiếu nại và gửi về cho BTC làm cơ sở xử lý.

CHƯƠNG VI. QUY ĐỊNH KHÁC
Điều 15. Kinh phí tổ chức giải:
          - Ban tổ chức sẽ vận động tài trợ từ các đơn vị, các nhân.
          - Các đội bóng tự túc trang bị, tập luyện, phương tiện đi lại.
          - Lệ phí thi đấu              : 500.000 đồng/ đội
          - Ứng lệ phí thẻ phạt      : 500.000 đồng/ đội
          - Tiền thẻ được hoàn trả sau khi tổng kết giải.

CHƯƠNG VII: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
          - Điều lệ giải bóng đá “ VUA SÂN 5 - NĂM 2014 - Lần 2” do Ban tổ chức giải ban hành và có hiệu lực với các thành viên Ban tổ chức, các đội bóng đăng ký thi đấu và các cá nhân có liên quan theo quy định chung
          - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tổ chức giải chưa được nêu ra trong điều lệ này, Ban tổ chức sẽ họp và kết luận đưa ra tại cuộc họp được đa số thành
viên Ban tổ chức tham gia dự họp nhất trí là ý kiến kết luận cuối cùng của vấn đề và được thi hành, các đơn vị không có quyền khiếu nại them
          - Chỉ có Ban tổ chức mới có quyền sửa đổi, bổ sung Điều lệ này và sẽ thông báo đến các đội tham dự giải bằng văn bản cụ thể
          - Quyết định Ban tổ chức là quyết định cuối cùng.
                                                                                     
                                                                             TM. BAN TỔ CHỨC
                                                                                             Trưởng ban                                                                                                 
 
 
 
                                                                             NGUYỄN TẤN TÀI
 
 
Lưu ý:
Mọi thắc mắc về điều lệ của giải đấu xin liên hệ: 0905. 920. 269 (Mr Hưng)
 Hồ sơ đăng ký phải đầy đủ các yêu cầu Ban tổ chức đưa ra trong điều lệ, những hồ sơ không đảm bảo các yêu cầu sẽ không được chấp nhận. Ban tổ chức có quyền yêu cầu các đội bóng hoàn thiện những hồ sơ chưa đầy đủ.
 Hồ sơ đăng ký sẽ được nhận tại văn phòng của Nam Hải Vân Sports Tại số  01 Đỗ Đăng Tuyển, Phường Khuê Trung, Quận Cẩm Lệ, TP  Đà Nẵngthumb_flex-1397176016270153_file.jpgthumb_flex-1397176953815312_file.jpgthumb_flex-1397176892950645_file.jpgthumb_flex-1397176908902810_file.jpgthumb_flex-1397176937147264_file.jpgthumb_flex-1397176969032867_file.jpgthumb_flex-1397176833248887_file.jpgthumb_flex-1397176850798349_file.jpgthumb_flex-1397176867450037_file.jpgthumb_flex-1397176878151342_file.jpg





Thể thao gắn với trách nhiệm cộng đồng. Vua sân 5 sẽ tài trợ miễn phí cho 5 ca phẫu thuật hở hàm ếch cho trẻ em nghèo.thumb_flex-1397176133660087_file.jpgthumb_flex-1397175977908713_file.jpg
Chơi thể thao rèn luyện sức khỏe và thể hiện trách nhiệm với cộng đồng. Vua sân 5 Đà Nẵng 2014 hi vọng mang thông điệp này đến với phong trào thể thao Đà Nẵng nói riêng, cũng như góp một phần nhỏ đem lại nụ cười cho các trẻ em không may mắn khi sinh ra đời với dị tật hở hàm ếch.
 

thumb_flex-1359590577533064_file.jpg

 

thumb_flex-1376535927520861_file.jpg
thumb_flex-1335239199651412_file.jpg
 
thumb_flex-1353931666613413_file.jpg
 

Thứ 6, ngày 11 - 04 - 2014

Lượt xem (68)

 
 
BẢN CAM KẾT

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------oOo--------------
 
BẢN CAM KẾT
“V/v cam kết sức khỏe cho HLV - VĐV đội bóng”
 
Kính gửi:   Ban tổ chức giải Bóng đá Vua sân 5 - Năm 2014 - Lần 2
 
Tôi đơn vị: .............................................................................................................................
Là đơn vị bảo trợ cho đội bóng..............................................................................................
Địa chỉ:...................................................................................................................................
Đơn vị chúng tôi cam kết sức khỏe đối với  HLV – VĐV tham gia giải bóng đá tranh cúp Vua sân 5 - Năm 2014 - Lần 2  là đảm bảo, đủ điều kiện thi đấu tại giải. Nếu có vấn đề gì liên quan đến sức khỏe của HLV – VĐV của đơn vị thì đơn vị chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước BTC.
                                                                                
 
                                                                        TÊN ĐƠN VỊ...................................................
                                              
(Ký tên, đóng dấu)

Thứ 6, ngày 11 - 04 - 2014

Lượt xem (62)

 
 
1.4 Ngày Bác Hồ về thăm làng cá ở Hội An Ngày 1/4/1 Bác Hồ về thăm động viên bà con ngư dân làng cá Hội An . Tại đây, Người đã căn dặn: “Biển bạc của ta do nhân dân ta làm chủ”. 

Và từ đó, ngày 1/4 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của ngành Thủy sản VN và là ngày hội của nhân dân Hội An . Năm 2014 này, Hội An kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm Làng cá . Theo gương Bác, chúng ta phải tiếp tục phát huy phong trào thi đua yêu nước, hăng say lao động SX, xây dựng nhiều mô hình SX hiệu quả, làm tốt công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển và hải đảo.

thumb_flex-1396826459734999_file.jpg
 

Thứ 2, ngày 07 - 04 - 2014

Lượt xem (91)

 
 
Hội An Xưa 1901 - 1964 Hội An những năm 1901-1964 đã được tái hiện sinh động trong loạt ảnh thuộc sở hữu của nghệ sĩ nhiếp ảnh Vĩnh Tân, một người con đất Hội An.thumb_flex-1396321175220846_file.jpg



Trong bốn trung tâm buôn bán lớn của Đại Việt với người ngoại quốc vào thế kỷ XVII-XVIII gồm Kẻ Chợ, Phố Hiến ở Đàng Ngoài và Hội An (Faifo), Tourane (Đà Nẵng) ở Đàng Trong, Hội An là nơi buôn bán sầm uất nhất - nơi vẫn được các thương gia nước ngoài ghé đến ca tụng như là một đầu mối giao thông, thương mại bằng đường biển quan trọng nhất của xứ Đàng Trong...

thumb_flex-1396321987239465_file.jpgthumb_flex-1396322007252175_file.jpg

 


Khi đương chức trấn thủ Quảng Nam dinh, Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên đã cho phép các thương gia người Nhật, người Hoa xây dựng hai phố riêng rẽ cho người nước mình ở cảng thị Hội An. Ông cũng quyết định tổ chức Hội chợ Quốc tế hằng năm kéo dài trong bốn tháng, để nhân dân trong vùng và thương nhân các nước buôn bán, trao đổi hàng hóa tại cảng thị này. Hội An trở thành thương cảng mậu dịch với ngoại quốc và là nơi đô hội buôn bán lớn nhất của xứ Thuận - Quảng, cũng như có tầm quan trọng bậc nhất Đông Nam Á thời đó.

 

Sở dĩ lúc đó Hội An chiếm được địa vị quan trọng này là vì Quảng Nam là xứ giàu có tài nguyên, phần nhiều sản vật do đất này sản xuất, nên dễ dàng và nhanh chóng tập hợp những sản vật mà thuyền buôn ngoại quốc cần mua. Ngoài ra còn một lý do khác nữa, đó là chính trị. Vì sợ người ngoại quốc giả mạo thương gia để do thám, nên triều đình cho phép họ chỉ được tập trung, tụ họp ở những nơi nhất định có sự theo dõi, giám sát của quan quân triều đình, những nơi đó gọi là Bạc dịch trường (chợ quốc tế) để buôn bán, tập hợp hàng hóa và cấm họ đến kinh đô của Chúa Nguyễn ở Phú Xuân (Huế). Chính vì lý do này mà phần lớn các Bạc dịch trường của người ngoại quốc đến buôn bán với Đàng Trong đều tập trung ở Hội An.

Quảng Nam, dưới tầm nhìn của chính quyền đương thời, là trấn quan trọng dùng để cai quản phương Nam, đồng thời có nhiệm vụ trực tiếp giao thiệp với người nước ngoài và kiểm soát việc ngoại thương, xuất nhập khẩu. Thương gia, giáo sĩ ngoại quốc hay du khách muốn vào Đàng Trong qua cửa Hội An (hay Tourane - Đà Nẵng) phải đến ra mắt trấn thủ Quảng Nam trước.

Cristoforo Borri, một giáo sĩ người Italia đã đến Đàng Trong truyền đạo những năm 1618-1622 và mô tả Hội An ngày đó trong “Nhật ký về phái bộ mới của các Linh mục Giáo đoàn Giê-su ở Vương quốc Đàng Trong”, xuất bản tại Paris năm 1631, như sau:

“… người Trung Quốc và người Nhật Bản là những thương nhân chủ yếu của chợ phiên tổ chức tại Hội An này, năm nào cũng mở và kéo dài bốn tháng. Người Nhật Bản thường mang lại 4-5 vạn nén bạc, người Trung Quốc thì đi một thứ thuyền buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và các sản vật đặc biệt của họ. Do chợ này, Quốc vương thu được số tiền thuế lớn, toàn quốc cũng được nhiều lợi ích...”.

Thế nhưng đến năm 1695, theo lời của một nhà buôn người Anh là Thomas Bowyear thì không khí kinh doanh ở Hội An đã khác: “Faifo gồm một con đường phố bên bờ sông và hai dãy nhà, có khoảng 100 nóc nhà của người Tàu, cũng có 4-5 gia đình Nhật Bản. Xưa kia người Nhật là cư dân chính và làm chủ việc thương mãi ở hải cảng này, nhưng số ấy đã giảm bớt và của cải của họ cũng sút kém, sự quản trị công việc đã vào tay người Tàu”.

Sự thay đổi này cũng được Thích Đại Sán (một nhà sư người Trung Hoa đã đáp lời mời của Chúa Nguyễn Phúc Chu đến xứ Thuận - Quảng năm 1695) ghi lại trong “Hải ngoại ký sự”: “Hội An là một đầu mã lớn, nơi tập họp của khách hàng các nước; thẳng bờ sông có con đường dài 3-4 dặm, gọi là Đại Đường Nhai, hai bên đường phố nhà cửa ở bên nhau khít rịt, chủ phố đều là người Phúc Kiến (Trung Quốc) vẫn ăn mặc theo lối tiền triều (nhà Minh), phần đông phụ nữ trông coi việc buôn bán. Khách trú nơi đây hay lấy vợ người bản xứ cho tiện việc thương mãi...”.thumb_flex-1396322621455587_file.jpg
 

Trong “Hồi ký về xứ Cochinchine (Đàng Trong)”, Pierre Poivre, một lái buôn phương Tây nhiều lần đến Hội An, cũng chép tương tự: “Faifo là hải cảng năng động nhất của xứ Cochinchine. Ở đấy có khoảng 6.000 người Trung Hoa và là những thương nhân cỡ lớn. Họ lấy vợ bản xứ và nộp thuế cho nhà vua…”.

Do cuộc chiến ở Đàng Trong kéo dài trong vòng 30 năm từ 1771 đến 1802 giữa quân Chúa Nguyễn và quân Tây Sơn, giữa quân Tây Sơn và quân Chúa Trịnh, đến cuối thế kỷ XVIII, Hội An dần dần trở nên vắng vẻ tiêu điều. 

Cả một thời đông vui, sầm uất chỉ còn vang bóng trong khu đô thị xưa. Và cho đến ngày nay, mặc dù đã trải qua hàng mấy trăm năm với bao thăng trầm của lịch sử, sự khắc nghiệt của thiên tai bão lũ hằng năm, sự tàn phá của chiến tranh nhưng Hội An vẫn còn giữ lại trong lòng phố bé nhỏ của mình hàng trăm ngôi nhà cổ cùng với nhiều chùa chiền, đền, miếu, hội quán... ghi dấu một thời vàng son của Hội An khi các thương gia ngoại quốc đến đây buôn bán, lập nghiệp.

thumb_flex-1396321079900873_file.jpg
Bến sông Hội An cuối thế kỷ 18
Hithumb_flex-1396248185150642_file.jpgthumb_flex-1396248259092740_file.jpg


Cầu chùa Hội An 1903thumb_flex-1396248292045699_file.jpgthumb_flex-1396248328241703_file.jpgthumb_flex-1396248361919828_file.jpgthumb_flex-1396248411756926_file.jpg






Hội An 1903thumb_flex-1396246735826241_file.jpg

Đường Hoàng Diệu và Phan Bội Châu 1930 -  - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396322239656698_file.jpg

Cảng buôn bán tấp nập Hội An

thumb_flex-1396247237087537_file.jpg


Đường Bạch Đằng 1930 - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396247291552543_file.jpg



Đường Phan Chu Trinh 1930 - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396246949154850_file.jpg



Quảng Triệu Hội Quán của người Hoa 1930 - Photo VĩnhTân

thumb_flex-1396247112732242_file.jpg


Chùa Bà Mụ 1930 - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396247170135262_file.jpg



 Tháp Bàng An của người Chăm 1930 - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396248060077422_file.jpg
 Hội An  xưa 1931thumb_flex-1396246877001508_file.jpg




Nhà thờ Công Giáo Hội An được xây dựng từ năm 1935 - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396247358738672_file.jpg


Chợ Hội An xưa 1940. - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396247431880140_file.jpg



Gánh hàng rong Hội An 1940 - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396247496649453_file.jpg



Bé gái nướng bánh tráng cho mẹ bán 1940 - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396248487219377_file.jpgthumb_flex-1396248494609727_file.jpg


Chợ ở Hội An ngày xưa 1940thumb_flex-1396246797948683_file.jpg






Hội An xưa 1950 - Photo Vĩnh Tân

thumb_flex-1396246676047242_file.jpg

Dường Trần Phú - Photo Vĩnh Tân 1950thumb_flex-1396321509232686_file.jpg

Duong Tran Qui Cap 1950thumb_flex-1396246272151715_file.jpg


Trận lụt năm 1950 – Đường Nguyễn Thái Học, Hội An - Photo Vĩnh Tân 1950

thumb_flex-1396248682638488_file.jpg



Nông dân làm đất trên cánh đồng - 1950

thumb_flex-1396248579078225_file.jpg



Đánh bắt cá trên sông Thu Bồn năm 1951

thumb_flex-1396246370703157_file.jpg


Đường Quảng Đông, nay là Nguyễn Thái Học - Photo Vĩnh Tân 1951

thumb_flex-1396248719936016_file.jpg


Câu cá ven sông Thu Bồn năm 1953


thumb_flex-1396246513696233_file.jpg
Ngã tư Lê Lợi-Nguyễn Thái Học 
 - Photo Vĩnh Tân 1952thumb_flex-1396247046533380_file.jpg




Đền Hàn Cung 1950 - Photo Vĩnh Tân


thumb_flex-1396247569262414_file.jpg


Một tiệm thuốc bắc Hội An 1950 - Photo Vĩnh Tân


thumb_flex-1396247642366209_file.jpgthumb_flex-1396247707369194_file.jpgthumb_flex-1396247775110020_file.jpgthumb_flex-1396247792036684_file.jpgthumb_flex-1396247803655227_file.jpg

Trận lụt năm Giáp Thìn 1964 - Photo Vĩnh Tân


Thành phố Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã 3 sông Thu Bồn thuộc vùng đồng bằng ven biển Tỉnh Quảng Nam, cách Thành phố Ðà Nẵng về phía Nam 28 km.Nơi đây xưa kia đã có một thời nổi tiếng với tên gọi Faifoo mà các thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Ðào Nha, Italia v.v.. đã biết đến từ thế kỷ 16, 17. Từ thời đó, thương cảng Hội An đã thịnh vượng, là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á, một trong những trạm đỗ chính của thương thuyền vùng Viễn Ðông.

 

Toạ độ địa lý
Vĩ độ Bắc: 15015'26"  đến 15055'15" 
Kinh độ Ðông: 108017'08" đến 108023'10"
- Phía Ðông giáp biển Ðông 
- Phía Nam giáp Huyện Duy Xuyên 
- Phía Tây và Bắc giáp Huyện Ðiện Bàn
Khí hậu:
- Nhiệt độ trung bình năm: 250
- Ðộ ẩm không khí trung bình năm: 82% 
- Lượng mưa trung bình năm: 2.066 mm
Diện tích & dân số:
- Diện tích tự nhiên: 6.027,25 ha 
- Dân số (số liệu điều tra năm 2007): 86.925 người.

 

Hội An là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam có nhiều khu phố cổ được xây từ thế kỷ 16 và vẫn còn tồn tại gần như nguyên vẹn đến nay. Trong các tài liệu cổ của phương Tây, Hội An được gọi Faifo. Phố cổ Hội An được công nhận là một di sản thế giới UNESCO từ năm 1999. Hiện nay chính quyền sở tại đang tích cực khôi phục các di tích, đồng thời phát triển thành một thành phố du lịch. Hội An đã đươc công nhận là đô thị loại III và đã được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam.

Hội An trở thành thành phố vào năm 2008 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thành phố Hội An, với 6.146,88 ha, 121.716 nhân khẩu.
Khi thành lập thành phố, Hội An có 13 đơn vị hành chính, gồm 9 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Thanh Hà, Tân An, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại; 4 xã là Cẩm Hà, Cẩm Thanh, Cẩm Kim và xã đảo Tân Hiệp – Cù lao Chàm.
Địa giới hành chính của thành phố Hội An: phía Đông giáp biển Đông, tây giáp huyện Điện Bàn và huyện Duy Xuyên, nam giáp huyện Duy Xuyên, bắc giáp huyện Điện Bàn.
thumb_flex-1330671332497035_file.jpg
thumb_flex-1330671346526156_file.jpg
 
Lịch sử
Trước thế kỷ thứ 2
Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I,II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú : Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiêm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hoá Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh.
Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng… bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thuỷ tinh. Đặc biệt còn có cả những tiền đồng Trung Quốc: Ngũ Thù; Vương Mãng cùng với các đồ trang sức mã não, thuỷ tinh có gốc gác từ Nam Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Đông, chứng tỏ cách đây 2000 năm, dân cư ở đây đã có nghề trồng lúa nước, khai thác thuỷ sản và làm các nghề thủ công. Đồng thời cũng thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu văn hoá trong nước cùng các hoạt động buôn bán với nước ngoài, lập nên một Cảng-Thị sơ khai, là nền móng cho các Cảng-Thị sau này.
Thế kỉ thứ 2 – Thế kỉ 15
Hai con mắt trên trong chùa Cầu (Lai Viễn Kiều). Rất nhiều nhà cổ ở Hội An có hai con mắt trên cửa như trong hình
Kế tiếp dân cư Sa Huỳnh cổ là dân cư Champa với nền văn hoá rực rỡ, mở đầu thời kì vàng son cho một Cảng-Thị hưng thịnh. Những cái tên Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm), Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại), Cachiam cùng với những tượng đá, giếng gạch và dấu vết nền tháp, đặc biệt trong các di chỉ khảo cổ học với các hiện vật gốm sứ Champa, Ả Rập, Trung Quốc; các đồ trang sức từ Trung Đông, Ấn Độ và nhiều tài liêu, thư tịch cổ Trung Quốc, Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư xác nhận vùng Cửa Đại xưa kia là hải cảng chính của nước Champa. Vùng Lâm Ấp phố là nơi các chiến thuyền ngoại quốc thường ghé lấy nước ngọt từ những giếng Champa rất ngon và trong; trao đổi sản vật như trầm hương, quế, ngọc ngà, thuỷ tinh, tơ lụa, đồi mồi, xà cừ.
Thế kỉ 15 – Thế kỉ 19
Tiếp nối thời Champa, khoảng cuối thế kỉ 15, Hội An đã có dân cư Đại Việt tới sinh sống. Trong buổi đầu cùng với việc khai hoang, lập làng, người Việt còn sáng tạo ra một số ngành nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội nơi đây. Từ cuối thế kỉ 16 – thế kỉ 17, có thêm nhiều người Hoa và người Nhật đến định cư, giúp thương nghiệp Hội An phát triển. Kết hợp với vị trí địa lý phù hợp, Hội An nhanh chóng trở thành một thương cảng phồn thịnh trong nhiều thế kỉ.
Đến giữa thế kỉ 19, nền kinh tế Hội An nhanh chóng suy thoái do nhiều nguy nhân bất lợi: sự bồi cạn, sông chuyển dòng, chính sách kinh tế hạn chế của triều đình phong kiến. Ngay gần đó, thương cảng Đà Nẵng hiện đại do người Pháp lập nên đã lấn át hết vai trò của Hội An.
1858 đến nay
Trong suốt 117 năm kháng chiến, nhân dân Hội An đã kiên cường chiến đấu cho độc lập và thống nhất của Việt Nam; tiêu biểu là phong trào Nghĩa Hội của Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo. Sau đó, có nhiều cuộc nổi dậy, phong trào như Duy Tân, phong trào chống thuế, Đông Du.
Ngày 22 tháng 8 năm 1998 Hội An được nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Ngày 4 tháng 12 năm1999 taị kì họp thứ 23 tổ chức tại Marrakesh (Maroc), Uỷ ban Di Sản thế giới của UNESCO đã công nhận Hội An là di sản văn hoà thế giới.
 

 thumb_flex-1330671578160687_file.jpg

Hội An là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử cánh mạng và văn hóa, được kết tinh qua nhiều thời đại và từng nổi tiếng trên thương trường quốc tế với nhiều tên gọi khác nhau như Lâm Ấp, Faifo Hoài Phố, Hội An...
Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên từ hơn 2000 năm trước, mảnh đất này đã tồn tại và phát triển nền văn hóa Sa Huỳnh muộn. Qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học tại 4 di tích mộ táng (An Bang, Hậu Xá I, Hậu Xá II, Xuân Lâm) và 5 điểm cư trú (Hậu Xá I, Trảng Sỏi, Ðồng Nà, Thanh Chiắm, Bàu Ðà), với nhiều loại hình mộ chum đặc trưng, với những công cụ sản xuất, công cụ sinh hoạt, đồ trang sức tuyệt xảo bằng đá, gốm, thủy tinh, kim loại... được lấy lên từ lòng đất đã khẳng định sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh. Ðặc biệt sự phát hiện hai loại tiền đồng Trung Quốc thời Hán (Ngũ Thù, Vương Mãng), những hiện vật sắt kiểu Tây Hán, dáng dấp Ðông Sơn, Óc Eo, hoặc đồ trang sức với công nghệ chế tác tinh luyện trong các hố khai quật đã chứng minh một điều thú vị rằng, ngay từ đầu Công nguyên, đã có nền ngoại thương manh nha hình thành ở Hội An.
 
Dưới thời vương quốc Chăm Pa (Thế kỷ 9-10), với tên gọi Lâm ấp Phố, Hội An đã từng là cảng thị phát triển, thu hút nhiều thương thuyền Ả Rập, Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi vật phẩm. Nhiều thư tịch cổ ghi nhận đã có một thời gian khá dài, Chiêm cảng - Lâm ấp Phố đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hưng thịnh của kinh thành Trà Kiệu và khu di tích đền tháp Mỹ Sơn. Với những phế tích móng tháp Chăm, giếng nước Chăm và những pho tượng Chăm (tượng vũ công Thiên tiên Gandhara, tượng nam thần tài lộc Kubera, tượng voi thần...) cùng những mảnh gốm sứ Trung Quốc, đại Việt, Trung Ðông thế kỷ 2-14 được lấy lên từ lòng đất càng làm sáng tỏ một giả thiết từng có một Lâm ấp Phố (thời Chăm Pa) trước Hội An (thời Ðại Việt), từng tồn tại một Chiêm cảng với sự phát triển phồn thịnh.
Cũng chính nhờ môi trường sông nước thuận lợi, cộng với nhiều yếu tố nội, ngoại sinh khác, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, đô thị - thương cảng Hội An lại được tái sinh và phát triển thịnh đạt. Do hấp lực của cảng thị này, cùng với "con đường tơ lụa", "con đường gốm sứ" trên biển hình thành từ trước nên thương thuyền các mước Trung, Nhật, Ấn Độ, Xiêm, Bồ, Hà, Anh, Pháp... tấp nập đến đây giao thương mậu dịch.
Theo các nguồn sử liệu, lượng tàu thuyền vào ra bến cảng tấp nập đến nỗi cột buồm của chúng "như rừng tên xúm xít" (Thích Ðại Sán - Hải ngoại ký sự), còn hàng hóa thì "không thứ gì không có", nhiều đến mức " cả trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được" (Lê Quý  Ðôn - Phủ biên tạp lục). Trong thời kỳ này, Hội An là đô thị-thương cảng quốc tế phát triển rực rỡ vào bậc nhất của cả nước và cả khu vực Ðông Nam Á, là cơ sở kinh tế trọng yếu của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn ở Ðàng Trong.
Từ cuối thế kỷ 19, do chịu sự tác động của nhiều yếu tố bất lợi, "cảng thị thuyền buồm" Hội An suy thoái dần và mất hẳn, nhường vai trò lịch sử của mình cho " cảng thị cơ khí trẻ"ớ Ðà Nẵng. Nhưng cũng nhờ đó, Hội An đã tránh khỏi được sự biến dạng của một thành thị trung - cận đại dưới tác động của đô thị hóa hiện đại để bảo tồn cho đến ngày nay một quần thể kiến trúc đô thị cổ hết sức độc đáo, tuyệt vời. 
Trong suốt 117 năm kháng chiến chống ngoại xâm (1858 - 1975), hàng nghìn người dân Hội An đã ngã xuống cho độc lập và thống nhất đất nước. Nhiều địa phương và một số người trong số họ đã được phong tặng danh hiệu "Anh hùng" 
Vào ngày 22/8/1998, Hội An được nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân". Hơn một năm sau, ngày 4 tháng 12 năm 1999, Tổ chức Văn hóa - Khoa học - Giáo dục Liên hiệp quốc UNESCO đã ghi tên Hội An vào danh mục các di sản Văn hóa thế giới và vào ngày 24/8/2000 Hội An một lần nữa được nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng Lao động" trong thời kỳ đổi mới. 
 
Mời các bạn cùng ngắm nhìn những hình ảnh quí hiếm về Hội An ngày xưa :
 
thumb_flex-1330671256795404_file.jpg
thumb_flex-1330671273533039_file.jpg
thumb_flex-1330671290526852_file.jpg
thumb_flex-1330671306140262_file.jpg
 
thumb_flex-1330671368898729_file.jpg
thumb_flex-1330671382309634_file.jpg
 
 thumb_flex-1330671437486528_file.jpg
thumb_flex-1330671458960314_file.jpg
thumb_flex-1330671475220897_file.jpg
thumb_flex-1330671500314617_file.jpg
thumb_flex-1330671513101606_file.jpg
thumb_flex-1330671533353268_file.jpg
 
 
Thành phố cổ Hội An chỉ còn dư âm phồn thịnh của các thế kỷ trước, trầm mặc bên dòng sông Thu Bồn xanh biết. Hội An nhiều tranh cãi về tên gọi. Phải Phố, Hội Phố, Hải Phố thành phố ven biển, hay là Hai Phố vì có hai Phố Tàu-Nhựt hay Hoài Phố là phố bên sông Hoài, nhánh sông Thu Bồn chảy qua Hội An ra đến cửa Ðại. Thời thuộc địa Pháp gọi là Faifoo. Hội An cách Ðà Nẳng khỏang 30 km.

Tại Marakech (Morocco) trong cuộc họp ngày 1/12/1999 Ủy ban Di sản của tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận Hội An và Mỹ Sơn là di sản văn hóa thế giới.

Du khách ngoại quốc tới Việt Nam thường đến Hội An, thời chiến tranh nhiều người gốc Quảng Nam, trưởng thành tại các thành phố khác, chưa có dịp về thăm phố Hội. Sau 30/4/75 họ rời Việt Nam và trưởng thành tại hải ngoại, nhiều người chưa biết Hội An.

Về nguồn là ước mơ chung của người viễn xứ. Tôi sưu tầm sử liệu góp với độc giả tìm hiểu nguồn gốc, Quảng Nam có phải là vị trí chiến lược từ đó mỡ rộng làm bàn đạp để người Việt tiến về miền Nam ?


Qua các Triều Ðại

Thời vua Lê Ðại Hành (980-1005) muốn ban giao với Chiêm Thành, nhưng vua Chiêm (Paramecvarvarman) hiếu chiến bắt giam sứ giả, Năm 982 Lê Ðại Hành đem quân trừng phạt đến kinh đô Indrapura của Chiêm Thành (ngày nay gọi là Ðồng Dương) giết vua Chiêm Paramecvarvarman rút quân không chiếm đất. Chiêm Thành lo sợ Ðại Việt, năm 1000 dời kinh đô vào vùng Vijaya (Bình Ðịnh)..

Lý Thánh Tông (1054-1072) Vua đầu tiên mở mang bờ cỏi xuống phía Nam...người Chiêm thường quấy phá người Việt, Lý Thánh Tông đem quân đánh tới Ðồ Bàn năm (1069) bắt vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman III) Chế Củ nhường 3 châu thuộc phía Bắc Chiêm Thành là Bố Chánh ( bắc Quảng Bình) Ðịa Lý ( Quảng Trung và nam Quảng Bình) Ma Linh (Quảng Trị) đổi lấy tự do. Ðược đất nhà vua chiêu mộ dân chúng đến khai khẩn đất đai

Lịch sử thay đổi qua nhiều triều đại đến đời Trần Thánh Tông (1258-1278) nhường ngôi cho con Trần Anh Tông (1293-1314). Làm Thái Thượng Hòang sang thăm Chiêm Thành hai nước Việt Chiêm ban giao tốt đẹp. Có thể ngài thấy từ Quảng Trị trở ra đất hẹp khô cằn khó phát triển, phương Bắc Trung Hoa luôn quấy phá, bước qua đèo Hải Vân về phía Nam là đồng bằng phì nhiêu, bờ biển trải dài, hy vọng phát triễn về kinh tế... Vùng đất hứa hẹn cho tương lại nên ngài hứa gã Huyền Trân Công Chúa cho Chế Mân.

Năm bính ngọ 1306 Vua Chiêm là Chế Mân ( Jaya Simhavarman ) trị vì năm (1288-1307) làm lễ thành hôn với Huyền Trân Công Chúa,được tấn phong làm Hoàng Hậu gọi là Paramecvari. Chàng rể Chế Mân làm sính lễ dâng hai Châu Ô và Châu Lý, cuộc hôn nhân nầy tạo ngoại giao tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Chiêm

Trần Anh Tông (1293-1314) anh của Huyền Trân Công Chúa, thâu nhận hai Châu trên đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu. Hoá châu gồm Ðiện Bàn và Duy Xuyên ngày nay. Ðại Việt cho di dân đến khai phá, từ đó có cơ hội cho các Triều đại kế tiếp tiến dần về phương Nam.

Năm 1307 Vua Chế Mân từ trần theo tục Chiêm Thành, Hoàng hậu Paramecvari tức Huyền Trân phải hỏa thiêu theo chồng. Tục lệ nầy người Ấn giáo còn áp dụng gọi là Suttee (trà tỳ) sau năm 1829 bỏ hẳn

Vua Trần Anh Tông thương em, cử phái đoàn do tướng Trần Khắc Chân sang Chiêm Thành chia buồn, lợi dụng cơ hội nầy giải thoát Huyền Trân đem về nước. Có thể ngoại giao của hai nước Chiêm và Việt từ đó bất hòa

Nhà Trần suy yếu bị nhà Hồ chiếm ngôi, Chế Bồng Nga (Pô Bin Swor 1360-1390) vua mạnh nhất của Chiêm Thành đem quân sang đánh phá Ðại Việt vào các năm 1377 và 1378. Năm 1390 đánh Thanh Hoá, tiến lên sông Hồng đánh với tướng Trần Khắc Chân, Chế Bồng Nga bị Ba Lậu Kê làm phản chỉ điểm. Chiến thuyền của Chế Bồng Nga bị bắn trúng tử trận. Từ đó Chiêm Thành bị suy yếu.

Vua Hồ Hán Thương (1401-1407) sai Ðỗ Mãn đem quân đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm Ba Ðích Lại (Virabhadravarman) thua nhường đất Chiêm Ðộng (Thăng Bình) Thượng Hoàng Hồ Qúy Ly đòi thêm miền Cổ Lũy Ðộng (Quảng Ngãi) (1)

Quân Minh đánh Ðại Việt, bắt gia đình nhà Hồ (1407) Vua Chiêm là Trà Toàn lợi dụng lúc thay chủ đổi ngôi, đem đại quân đánh chiếm phần đất đã nhường cho nhà Hồ.

Lê Thánh Tông (1460-1479) bị Chiêm Thành đem quân quấy phá. Vua Lê phản công hành quân tới Kinh đô Ðồ Bàn 1471 bắt Trà Toàn và Trà Toại. Chấm dứt chiến tranh Việt Chiêm, chiếm vùng đất mới đổi tên thành Hoài Nhơn. sát nhập vào bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghiã, trở thành Quảng Nam Thừa Tuyên Ðạo. Danh từ QUẢNG NAM được chính thức đi vào Lịch sử.

Quảng Nam có nghiã là mở rộng về phương Nam, bắt đầu trang sử mới cho lưu dân Việt, từ đó khai phá và mở mang bờ cỏi đến đồng bằng sông Cửu Long (Mekong).và dừng lại năm 1884 khi thực dân Pháp chiếm Việt Nam và các nước Ðông Dương

Quảng Nam đất "địa linh nhân kiệt; Ngũ Phụng tề phi" nơi phát động các Phong Trào: Nghiã Hội (1885-1887) Ðông Du (1903-1905) và Duy Tân (1906-1908). là những ngọn duốt soi sáng, đưa đến những cuộc vận động tranh đấu giành lại độc lập của toàn dân Việt Nam đầu thế kỷ 20


Kinh Ðô Simhapura

Các học giả Pháp C.Paris và C. lemire nghiên cứu sưu tầm các tác phẩm điêu khắc tại Trà Kiệu. Cuối thế kỷ thứ 19 hai ông L.Finot và H. Parmentier khảo sát dấu vết tường thành tại đây. Năm 1927-1928 nhà khảo cổ J.Y claeys khai quật quy mô gần một năm tìm kiếm di tích...và chứng minh Thành Trà Kiệu là Kinh Ðô Simhapura (gọi Kinh thành Sư Tử) được xây dựng vào thế kỷ thứ 4 dưới đời vua Bhadravarman. Ðầu thế kỷ thứ 11 vùng đất nầy bị phiá Bắc (Ðại Việt ) đe dọa dời Kinh đô Ðồ Bàn (Choppant) về vùng Vijaya Bình Ðịnh.  thiệt thòi lớn lao của người Chàm, vì đã phải bỏ kinh đô của các vua Chàm nhiều thế kỷ trước, đã tích trữ những tài sản châu báu, và đã chứng kiến những giai đoạn oai hùng của vương quốc Chàm (2)

Di dân Ðại Việt với tính nhẩn nại chuyên cần, khai phá hoang điạ, vượt qua sơn lam, chướng khí và thú dữ tạo nên làng mạc, những cánh đồng lúa phì nhiêu, người Việt nhờ đoàn kết có tổ chức, tạo dựng cuộc sống mới, được quân đội can thiệp bảo vệ nếu Chiêm Thành quấy phá

Chiêm Thành có nhiều Thị tộc khác nhau, mỗi Thị tộc có cùng một họ và vật tổ riêng. Hai Thị tộc lớn là Thị tộc Cây Dừa( Narikelavamca) ở vùng Indrapura/ Quảng Nam và thị tộc Cây Cau ( Kramukavamca vùng Panduranga/ Phan Rang (3) Các Vua Chiêm Thành, hiếu chiến gây chiến với các nước lâng ban, để rồi trỡ thành nạn nhân khi bị đánh trả.. lúc vui cắt đất dâng hiến, thua trận nhường đất...Thế lực suy kém càng ngày xa lánh người Việt, vô tình họ bỏ đất cho người Việt khai phá. Dân tộc Chiêm Thành bị xóa tên vào năm 1832.

Người Việt sống nghề nông nghiệp, lấy giống lúa Chiêm ngắn hạn của Chiêm Thành giúp nâng cao đời sống về nông nghiệp và dân số gia tăng, cho đến ngày nay còn giống lúa ấy tại Quảng Nam.


Người Ngoại Quốc

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử từ nhà Trần, nhà Hồ và nhà Lê. Hội An được phục hồi dưới thời Nguyễn Hoàng (1558-1613) kiêm nhiệm Trấn nhậm đạo Quảng Nam nhờ chính sách cai trị tốt đẹp, hoạt động mạnh ngành ngoại thương, phát triển về kinh tế cạnh tranh với phố Hiến Ðàng ngoài, mở cửa buôn bán với ngoại quốc : người Bồ Ðồ Nha Hòa Lan, đến từ Ðàng Ngoài ( Chúa Trịnh). Hội An buôn bán tấp nập, các thổ sản cau khô quế, gạo hương, gạo nếp, đường, các loại bông, thuốc lá hồ, tiêu, yến sào cù Lao Chàm, tơ sống, các loại lụa, gỗ quý và hoa quả.vv. (*)

Hội an một thời là trung tâm ngoại thương, cửa ngỏ quan trọng tiếp xúc với văn minh Tây Phương, cách Huế khoảng 130 km. Sách Ðại Nam Thực Lực Tân Biên viết  "bấy giờ Chúa trấn hơn mười năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm minh, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hoi giá, không trộm cướp. Thuyền buôn nước ngoài đến nhiều. Trấn trở nên đô hội lớn"  (4)

Có thể giai đoạn trước khi người Việt di dân đến, thương nhân người Bồ Ðồ Nha từng đến khảo sát buôn bán tại cửa Ðại Chiêm ( cửa Ðại ngày nay) người Bồ gọi hải cảng đó với tên Cacciam. Và người Chiêm Thành dùng cửa biển Ðại Chiêm buôn bán với Mã Lai, Ấn độ, phần lớn người Chiêm Thành theo Hồi Giáo và Bà La Môn.

Năm 1615 Giáo sĩ Francesco Buzzoni (1576-1639) và Diego Carvahlo người Tây Ban Nha đến Hội An truyền giáo. Kế tiếp Giáo sĩ Francesco de Pina (1585-1625) người Bồ Ðồ Nha đến Hội An các năm ( 1616-1617 và 1620-1623), thông thạo tiếng Việt, ngài là người đầu tiên biên soạn từ tiếng La Tinh sang Việt ngữ ; kế tiếp Alexandre de Rhodes (1583-1660) người Pháp, đến Hội An năm 1624 là nhà truyền giáo, nhà ngôn ngữ học. Học tiếng Việt, tiếp tục phiên âm soạn chữ Quốc Ngữ, mở đầu kỷ nguyên mới cho Văn học Việt Nam. Năm 1651 Alexandre de Rhodes cho in tự điển Việt ngữ- La Tinh Dictionnaire Annamite Portugais Latin và cuốn giáo lý vấn đáp Catéchismeannamite et Latin. Sau đó giám mục d'Adran ( Bá Ða Lộc) sửa lại thành bộ tự điển Việt ngữ sang La tinh kế tiếp công việc nầy là giám mục Tabert biên soạn thành bộ Dictionnaire Annamnitico- Latatinum ( 5)

“Sự chuyển đổi từ chữ Nho và chữ Nôm qua Quốc ngữ là một kỳ công mở ra một chân trời mới cho văn minh và văn hóa Việt, đã phát khởi đầu tiên tại Quảng Nam vào đầu thế kỷ 17“ (6)

Người Hòa Lan đến buôn bán từ năm 1636 đến 1641, nhưng phải rời Ðàng Trong vì họ giúp cho Chúa Trịnh Ðàng Ngoài. ( nội chiến Trịnh-Nguyễn phân tranh)

Thương gia Nhật Bản từ Nagasaki tới Hội An năm (1604-1634) lập các tiệm buôn kiến tạo khu phố riêng. Xây Lai Viễn Kiều bắt ngang con rạch nhỏ, nối tiếp giữa con đường Duy Tân và Cường Ðể (gọi là Chùa Cầu), làm bằng gỗ dài 18 m trên lợp mái ngoái âm dương. Hai bên cầu thờ mỗi bên, hai con chó và hai con khỉ ( nghĩa cây cầu xây từ năm thân, xong năm tuất )

Thương gia Nhật làm ăn phồn thịnh, nhiều nhân vật tiếng tăm các đại tộc Chaya Sotarô người trong họ Sotarô cưới Công chúa của Sải vương Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) trấn nhậm Quảng Nam ? nhiều nghi vấn khác nhau qua các báo chí, sử sách về việc lấy chồng các nàng Công chúa, liên quan đến Hội An Quảng Nam.Nhà văn Trần Gia Phụng dành một chương " Ai đưa Công chúa sang sông" giải thích những nghi vấn về hôn nhân của các Công chúa thời Chúa Nguyễn. (7) Theo gia phả Nguyễn Phước Tộc thế Phả ấn hành tại Huế 1995 chứng minh được cuộc hôn nhân của các nàng Công chúa, Ngọc Vạn và Ngọc Khoa

Nội chiến Trịnh Nguyễn bùng nổ tại Bố Chánh năm 1627. Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên Theo chính sách nhà Trần, gả con gái cho vua Chiêm Thành để ngoại giao hai nước được ổn định ở phía Nam, vì phiá Bắc phải đương đầu chống lại với Chúa Trịnh.

* Năm canh thân 1620 bà Ngọc Vạn được đức Hy Tông sãi vương gã cho vua Chân lạp là Chey Chetta 2.về sau nể tình bà. Vua Chân lạp cho người Việt lập dinh điền tại Mô xoài Bà riạ

* Năm tân mùi 1631 bà Ngọc Khoa được đức Hy tông gả cho vua Chiêm thành lá Pôrômê. Nhờ có cuộc hôn phối nầy mà tình giao hảo giữa hai nước Việt Chiêm tốt đẹp

Như vậy thương gia Nhật Bản có thể cưới người khác không phải Công chúa của Sải Vương. Vấn đề hôn nhân dị chủng không xa lạ khi người Pháp, người Mỹ đến Việt nam. Nhưng trường hợp kết hôn của các Công chúa : Huyền Trân thế kỷ thứ 14 được vùng đất Thuận-Hóa. Công chúa Ngọc Vạn, và Ngọc Khoa thế kỷ thứ 17, từ đó có cơ hội đưa người Việt xuống vùng đất Chân Lạp, đồng bằng sông Cửu Long. Chúng ta nên vinh danh các nàng Công chúa đã hy sinh, lập gia đình theo nhu cầu và quyền lợi của dân tộc Ðại Việt.

Năm 1620 Nhật Bản áp dụng chính sách bế môn tỏa cảng. Từ đó người Nhật ít lui tới Hội An, nhường ảnh hưởng thương mãi cho người Trung Hoa và các thương thuyền Âu Châu.

Các thương thuyền Ngoại quốc đến Á Châu buôn bán như Mã Lai, Ấn Ðộ, Macao. ghé vào cảng Hội An buôn bán.Theo thời tiết họ thả neo tại Hội An vào mùa xuân chờ đến mùa Thu có gió nồm thổi đến. Họ nhổ neo thả buồm đi về hướng Bắc.

Ðầu thế kỷ 17 người Trung Hoa là những thần dân, quan lại của nhà Minh (1368-1644) bị sụp đổ họ bỏ nước xuôi nam, Vì người Kim từ miền Bắc xuống lật đổ nhà Minh. Lập nên vương Triều Mãn Thanh (1644-1912)

Người Hoa sống các ven biển Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Ðông, Hải Nam dùng thuyền đến Việt Nam tị nạn. Lúc đầu họ đến Phú Xuân, kinh đô xứ Ðàn Trong, sống tập trung thành một làng, gọi là làng Minh Hương (8)

Hội An có nhiều thương khách người Hoa đến buôn bán xứ Ðàn Trong từ trước, Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan cho phép người Hoa nhập quốc tịch Ðại Việt xây dựng làng Minh Hương (1645-1653). Nhờ kinh nghiệm về thương mãi, ngoại thương người Minh Hương thành công đóng góp với người Việt, người Chiêm phát triển xã hội tạo thành phố Hội An sầm uất.

Năm 1679 cựu quan lại nhà Minh chống nhà Thanh thất bại là Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên... với 3000 quân và 50 chiến thuyền sang xin tỵ nạn. Chúa Nguyễn là Hiền Vương (1648-1687) cho phép một số người đến Hội an, còn lại gởi vào đất Chân Lạp yêu cầu vua Chân Lạp cho đất lập nghiệp. Như dòng họ Mạc Cửu (1655-1735) khai phá Hà Tiên vv.


Sinh Hoạt của người Hoa

Người Hoa luôn trọng đạo Khổng Mạnh : Nhân, Lễ, Nghiã, Trí, Tín, cũng như Ðạo Phật phát triễn mạnh, các danh Tăng đã vận động xây nhiều ngôi chùa nguy nga và tráng lệ chùa Quảng Triệu, chuà Phước Kiến (người ta quen gọi là Chùa Tàu) Cổng Tam quan có 3 mái ngoái cong, màu xanh lá cây trên mái có những con rồng dài lộng lẫy, tường sơn màu hồng nhạt. phiá trước có cái Ðỉnh bằng đồng đen cao khoảng 1m50 hai bên cổng, hai con Ruà lớn bằng đá đội cột bia cao, bên cạnh những cây sứ to vỏ cây màu xám đậm.Các chậu kiểng cắt tiả công phu. Phiá sau cổng tam quan là ngôi chùa kiến trúc theo lối cổ điêu khắc công phu, cột gỗ to màu đen, dưới chân là những tảng đá đen hình vuông hay tròn, trên cột treo những câu đối đỏ, chữ mạ vàng.. Bàn thờ uy nguy đầy nét huyền bí. Nhan hình xoắn khói màu trắng nhẹ nhàng phản phất thơm mùi trầm

Phần lớn người Hoa ở trên đường Cường Ðể (Trần Phú) đã xây các Hội Quán, sinh hoạt tế lễ hàng năm.Vật liệu xây cất đá quý, tranh thuỷ mạc.. được nhập cảng từ các vùng bên Trung Hoa, các Hội Quán : (9)

Hội Quán Phúc Kiến (1792 )

Hội Quán Quảng Ðông (1786)

Hội Quán Hải Nam (?)

Hội Quán Triều Châu (1776)

Hội Quán năm cộng đồng người Hoa (1773)

Phần lớn người Hoa chuyên về ngành thương mãi, nhưng Ông Châu Thượng Văn (1856-1908) hiệu Thơ Ðồng gốc người Minh Hương, nhiệt thành yêu nước Việt và hăng say tích cực đóng góp với Phong Trào Duy Tân. Năm 1908 bị bắt cùng với Huỳnh Thúc Kháng.vv.. Châu Tiên Sinh phản đối chính quyền bảo hộ đàn áp sĩ phu Việt Nam, tuyệt thực mất trong lao Thừa Phủ Huế trước khi đày đến Lao Bảo. Nhạc sĩ La Hối sáng tác nhạc phẩm bất hủ "Xuân và tuổi trẻ“ v v...

Hội an lui dần vào những ngày trầm lặng, vua Ðồng Khánh trị vì (1885-1888) nhường Ðà Nẳng năm 1888 cho thực dân Pháp. Các thương nhân tàu bè cập bến Ðà Nẳng; từ cửa Ðại vào Hội An lòng sông không sâu tàu lớn khó vào được. Ðà Nẳng từ từ thay thế trên mọi lãnh vực : thương mãi, quân sự và ngoại giao.




Di tích Văn Hóa

Năm 1945 Việt Minh chống Tây chủ trương tiêu thổ kháng chiến, nhà cửa đình chùa đều bị phá hủy, Nhiều nơi Ðình Miếu bị đập phá còn lại những đống gạch vôi vụn, chỉ còn nghe nhắc lại địa danh như vườn Chùa, đất Ðình, đất Làng mà thôi.

Cơ quan hành chánh từ La Qua Ðiện Bàn dời về Hội An trở nên thành phố thương mãi và hành chánh của tỉnh Quảng Nam. Trước năm 1975 Bệnh viện Hội An được chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Tây Ðức tài trợ, có các y tá bác sĩ người Ðức phục vụ, khám bệnh phát thuốc miễn phí.

Hội An ảnh hưởng văn hóa đa nguyên, tổng hợp những tinh hoa, tiếp xúc văn minh Tây phương đều khởi đầu tại Hội An Quảng Nam. ( Nho giáo quan niệm nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô ngược lại Chiêm Thành theo chế độ Mẫu hệ, nhưng người Việt đã dung hòa được hai quan niệm trên)

Hội An còn lại các ngôi Ðình Miếu cổ, lưu lại dấu tích lịch sử văn hóa tỉnh Quảng Nam. Ðình Cẩm Phô ở ngã ba Khổng Miếu, Ðình cây đa Kèn (thời Tây mỗi buổi sáng đội lính Tây đứng dưới gốc cây đa thổi kèn) nên người ta gọi là cây Ða Kèn thân to lớn tàng lá xum sê tươi tốt che phủ ngôi đình làng cổ kính. Ðình làng Cẩn Hà trên đường vào chùa Long Tuyền, Ðình ông Voi trên đường Lê Lợi..Ðình Cẩm Phô thờ dòng họ của cố văn hào Nhất Linh...

Các Ðình Miếu kiến trúc thường có 3 gian, ba bàn thờ khác nhau, đơn giản nhưng huyền bí, nhiều cột gỗ to chạm trổ công phu, lợp ngoái âm dương trên nóc có lưỡng long tranh châu hay cặp rồng chạy dài theo mái, tường xây gạch nung bên ngoài tô vôi. Theo thời gian rêu phong biến thành màu đen hay xanh đậm. Sân đình có các tấm bia lớn chạm hình long, hổ, phụng, cẩn các mảnh bằng sứ. Theo phong tục cổ truyền hàng năm các cụ trong quốc phục khăn đóng áo dài, cúng Ðình trên bàn thờ có heo quay, xôi bánh, trái cây đủ loại khói hương nghi ngút, đánh chiêng trống tế lễ.

Chùa Ông Bổn trên chợ Hội An các ngày rằm mùng một, nhiều người tới cúng xin xăm, trước cửa chùa các thầy bói xem quẻ. Theo nhà văn Nguyễn Văn Xuân viết :

„ Tiến sĩ Nguyễn Nghiễm là thân phụ thi hào Nguyễn Du đến thăm viếng ngôi Chùa làm bài thơ khắc trên bức hoành lớn treo trước chùa. Vua Minh Mạng ngự gía Hội An vào thập niên 20 thế kỷ thứ 19 cho ba trăm lạng bạc để sửa chữa ngôi Chùa nầy bị hư hại qua thời gian và chiến tranh. „

Chùa Chúc Thánh do vị danh sư Minh Hải sáng lập có nhiều nét kiến trúc của Trung Hoa. Năm 1917 hai tăng sĩ trẻ từ Huế vào thọ Tỳ Keo tại Tổ đình nầy, trong đại giới Ðàn Minh Hải. Sau nầy hai vị sư đó trỡ thành danh tăng : Ðệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và Ðệ nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Chùa Long Tuyền trù trì cố Hòa Thượng Thích Chơn Phát. Chùa biệt lập thanh tịnh bên kia cồn cát, chạy dài song song với phố Hội. Chùa cổ mái thấp nhiều cột, sân lót gạch, hòn non bộ tuyệt đẹp, nước chảy từ khe núi nhỏ bên cạnh các ông tiên đang đánh cờ, đàn cá vàng lội tung tăng.

Chung quanh hàng cây xanh làm hàng rào, cổng tam quan xây gạch tô vôi, hai cánh cửa gỗ lớn dày, phần đất bên cổng chùa có vài cổ tháp, là mộ phần các vị trù trì tiền nhiệm viên tịch, những hàng sứ xanh mùa hè nở hoa thơm ngát, xa xa những cây phi lao vi vu trong gió thoảng. Còn lại dấu tích đường rầy tàu lửa chạy ngang từ thời Pháp thuộc. (đường rầy bị gở hết)

Cố Hòa Thượng Thích Long Trí, trù trì Chùa Viên Giác, chùa nằm trên đường chính vào phố Hội, cổng tam quan với hai cánh cửa sắt, chung quanh được xây tường bằng xi măng, trước chùa hai hàng dừa xanh tươi. Hai cây đa cổ thụ phủ bóng mát quanh năm, dãy nhà một tầng lầu tiện lợi cho mùa đông khi nước lụt lên cao, chính điện rộng, sân Chùa nhiều cây kiểng đẹp. Chùa nầy đào tạo nhiều danh tăng.(**)

Chùa tỉnh Giáo hội trên đường Trưng Trắc, bên cạnh là trường Trung học Bồ Ðề phiá trước là bàu rau muống xanh tươi, có hàng dừa cao chót vót đứng chơ vơ giửa trời.

Tịnh Xá Ngọc Cơ hình bát giác, giữa là tôn tượng Ðức Phật lớn, Các vị Khất sĩ mặc áo vàng đi chân đất, ôm bình bát đi khất thực. Các ngày rằm mùng một thường thuyết Pháp qua máy phóng thanh.

Tôn giáo hòa hợp,Thánh Thất Cao Ðài cột cờ cao lá Phướng dài tung bay trong gió bên cạnh bến xe cũ. Giáo đường Thiên Chúa Gíao trên đường Nguyễn Trường Tộ đối diện sân vận động. không rõ ngôi Giáo Ðường nầy xây cất vào thời gian nào, nhưng hàng năm Thánh lễ Giáng Sinh không phân biệt tôn giáo, hàng ngàn người đến tham dự ngày Chúa sinh ra đời, ngoài ra có thêm nhà thờ Tin Lành tại ngã ba Khổng Miếu

Ðền thờ Khổng Tử (gọi là Khổng Miếu) có cầu vồng hồ bán nguyệt mùa hè sen nở rất đẹp, chung quanh xây tường cao trồng dừa, đài tưởng niệm Chiến Sĩ tấm bia hình tháp cao tựa như chùa một cột, đứng trên hồ sen hình vuông, chung quanh trồng trúc vàng (xây thời Ðệ Nhất Cộng Hòa 1957)


Các trường trung tiểu học

Hội an có các trường công lập nam và nữ tiểu học, trung học Trần Quý Cáp, trường nữ trung học. Vì nhu cầu phát triển giáo dục, lúc đầu có trường tư thục Diên Hồng ngôi trường nầy nhỏ cổ kính, không thâu nhận được nhiều học sinh, trường trung học Bồ Ðề mở rộng đủ tiêu chuẩn nhiều học sinh theo học, ngoài ra người Minh Hương có trường trung học đệ nhất cấp, tên trường lâu không nhớ rõ "trường Lễ Nghĩa" ? Văn hóa phát triễn theo khoa học các trường trung học tại Hội An đã đào tạo nhiều danh nhân xứ Quảng Nam


Ðặc sản

Hội An có những cây đa, cây bàn cổ thụ hàng trăm năm tươi tốt. Giếng Bá lễ nằm trong con hẻm người ta thường gọi kiệt Bá Lễ ăn thông qua hai đường Phan Châu Trinh và Trần Hưng Ðạo, nhờ nước giếng nầy sản xuất loại mì Cao lầu, đặc sản nổi tiếng tại Hội An, Cao lầu cũng sản xuất từ bột gạo, nhưng không đơn giản như Mì Quảng, loại mì nầy phải qua ngâm qua một dung dịch nước tro (nhà văn Nguyễn Văn Xuân dẫn chứng con cháu Hội An đi nơi khác không thể nào làm được Cao lầu như tại Hội An).

Mì Quảng, bánh su xê, tương ớt, sương xoa (bằng rau câu), bánh in, bánh tổ, vào Tết Ðoan Ngọ mùng năm 5/5 bán bánh ú tro nhỏ không nhân, gói bằng lá dong nhỏ, một chùm 12 cái, chấm với đường cát ăn thơm ngon, nhờ nếp được ngâm vào nước tro thổ sản đặc biệt. Trong mùa bắp có bắp nấu hay nướng. Mùa hến các ngư dân dọc theo sông Thu Bồn cào hến, luộc chín bỏ vỏ lấy nước và ruột hến gánh bán quanh phố, Cơm hến hay canh hến nấu với rau muống rất ngon và hấp dẫn. Bánh tráng ướt và bánh tráng nướng đập dập chấm nước mắn, Các loại chè: chè lục tàu xá, đậu xanh đánh, hạt sen vv..chợ Hội An bán nón lá, dưới gốc cây bàn cổ thụ treo bán guốc gỗ

Năm 1998 Hội An được khôi phục lại việc thắp lồng đèn trên phố cổ, tạo khung cảnh mới lạ. Các loại lồng đèn, theo kiểu Trung Hoa, Nhật Bản. Các loại hình quả nhót, quả bí, khung bằng tre bọc giấy hay lụa màu, hay loại khung gổ qúy chạm trổ bọc kính vẽ hình màu. Lồng đèn treo trước hiên nhà, cửa tiệm ánh sáng nhẹ, tạo những nét rất kỳ ảo trên khu phố cổ bằng gỗ hai tầng.

Nhiều Du khách đến thăm, đem lại sinh hoạt náo nhiệt và phồn thịnh. Có 600 loại hàng thủ công nghệ bày bán. Ðẹp nhất là tơ lụa được mọi người ưa thích. Thời gian dù đổi thay 30 năm qua tôi chưa về tham phố Hội, nhưng tôi tin rằng Hội An vẫn tồn tại những nét đẹp riêng, không thể đổi thay được nét cổ kính trầm mặc của nó.


Nửa đêm nước ngược về nguồn
Sông Thu trở giấc lắng buồn Hội An
Mai ngày lỡ bước sang ngang
Ai cho mình thuở Hội An ban đầu

Sơn Thu



 

 

(*) Tài liệu của Nguyễn Phước Tương (Ðất Ngũ Phụng đặc san xuân Nhâm Ngọ 2002)

    Thương nhân Nhật Bản thường mua tơ sống, các hàng tơ lụa, nhựa chương não, ký nam, đường phèn, da cá, hạt cau khô, sơn sống, đồ sành sứ..( Chen Chin Ho Phố người Ðường và việc mua bán ở Hội An thế kỷ 17-18)

    Thương nhân Bồ Ðồ Nha mua các loại hàng tơ sống, hồ tiêu, trầm hương các hàng dệt bằng tơ, hắc đàn, đường, vàng, xạ hương, quế, gạo nếp.Thương nhân Hòa Lan mua tơ lụa, trầm hương, đường, gạo, xạ hương, ngà voi, vàng....(Birdwood. Report on the miscellaneous old the India office)

    Thương nhân Trung Hoa mua hồ tiêu, sơn sống, kỳ nam, ngà voi, tơ sống, trầm hương, thuốc phiện, đường trắng, đường phổi, đồ gỗ và vàng...( Pierre Poivre Mémoires sur les royaumes de la Cochinchine et du Camgodge)

(1)Quảng Nam trong lịch sử trang 37 của Trần Gia Phụng biên khảo Toronto 2000

(2 và 3) Dohamide và Dorohiem Dân Tộc Chàm Lược sử sđd trang 21 - 22 và 91.

(4) Quốc Sử quán triều Nguyễn Ðại Nam Thực Lục Tiên Biên 1821

(5) Việt Nam văn hóa sử cương Ðào Duy Anh

(6) Quảng Nam trong lịch sữ trang 23 Trần Gia Phụng, biên khảo Toronto 2000

(7) Những câu chuyện lịch sử tập 2 sđd trang 212-219 Tràn Gia Phụng Toronto 1999

(8) Người Hoa tại Việt Nam tác giả Nguyễn văn Huy NxB NBC Paris

(9 )VietNam Annaliese Wulf DuMont Buchverlag Koeln 1995

(**) Thượng tọa Thích Như Ðiển, xuất gia từ ngôi chùa nầy được Giáo Hội tại Hội An Quảng Nam gởi du học Nhật Bản. tốt nghiệp Ðại học, sang Ðức tị nạn sáng lập chùa Viên Giác tại Hannover Ðức quốc.Thượng Toạ Như Ðiển cũng là nhà văn, viết trước tác, dịch thuật trên 30 tác phẩm, luôn đấu tranh tự do Tôn Giáo cho Việt Nam. Ðào tạo tu sĩ có trình độ học vấn cao, có nhiều khả năng : viết báo, dịch sách hy vọng đóng góp cho Văn Học Việt Nam và Ðạo Pháp hải ngoại.

Tài liệu tham khảo

Việt sử xứ đàng trong tác giả phan khoang

Ðại nam thống nhất chí Quốc sử Quán

Việt nam Sử lược tác giả Trần trọng Kim.

 

thumb_flex-1330671599966062_file.jpg
thumb_flex-1330671613893107_file.jpg
thumb_flex-1330671624801735_file.jpg

 

Hội An cách thành phố Đà Nẵng hoảng 25  về phía   Km về phía đông-nam, nằm trên bờ bắc Sài Giang (còn Giang (còn gọi là sông Chợ Củi-vùng hạ lưu sông Thu Bồn), nơi nhiều con sông lớn của Quảng Nam hội tụ và đổ ra biển Đông ở Cửa Đại. Vùng đất này có nhiều bến sông, là nơi thuận tiện vận chuyển và tập trung các loại sản vật của đất Quảng để trao đổi, buôn bán với các nơi khác bằng đường thuỷ. Theo các nhà khảo cổ học, cách nay khoảng 2000 năm đã có một cảng thị sơ khai ở vùng đất Hội An, nhiều di vật được tìm thấy trong các mộ chum và khu cư trú cổ của người Sa Huỳnh, cho thấy dân cư ở đây đã có quan hệ mua bán trao đổi với các nơi khác trong vùng Đông Nam Á từ lâu đời. Dần dần cảng thị này phát triển thành Đại Chiêm Hải Khẩu dưới thời vương quốc Champa, kết quả khảo sát, khai quật khảo cổ học cho thấy dấu vết các bến thuyền của Chiêm cảng xưa còn để lại ở hai bên bờ hạ lưu sông Thu Bồn.
- Năm 1570, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Quảng Nam, đã tích cực khai phá vùng đất Đàng Trong, xây dựng làng xóm, phát triển nông - thương nghiệp. Năm 1613, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cải cách xã hội, tăng cường việc mua bán với các nước, chuẩn bị lực lượng để đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
Trong các thế kỷ XVI-XVII là thời kỳ ở vùng Đông Nam Á có nhiều chuyển biến quan trọng, chính sách ngoại thương của Trung Hoa và Nhật Bản đã ảnh hưởng không ít đến sự phát triển của vùng này, Hội An cũng chịu tác động mạnh mẽ bởi những yếu tố bên ngoài đó.
- Nếu căn cứ vào những đồng tiền Ngũ Thù, Vương mãn và một số di vật khác mang yếu tố Trung Hoa được tìm thấy trong các mộ chum ở Hậu Xá và An Bang (1), thì có lẽ người Hoa đã có quan hệ mua bán với những cư dân Sa Huỳnh ở Hội An cách nay khoảng 2.000 năm. Thời kỳ vùng đất này còn thuộc vương quốc Champa, Đại Chiêm Hải Khẩu đã đón tiếp các thương thuyền Trung Hoa vào buôn bán, trao đổi các sản vật, họ thường mua tơ lụa, trầm hương, quế, tiêu..., hoặc lấy thêm lương thực, nước ngọt để đi tiếp đến các nước khác ở Nam Á. Thế nhưng vào giai đoạn trước thế kỷ XVII, người Hoa chỉ dừng chân mua bán chứ không lưu trú, lập nhà phố ở Hội An.
- Năm 1649, ở Trung Quốc nhà Thanh diệt nhà Minh, lập ra triều Mãn Thanh, đã dẫn đến sự di cư ồ ạt của người Hoa xuống vùng Đông Nam Á, nhiều người đã định cư ở Hội An.
- Vào khoảng cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII, thương truyền Nhật Bản đã đến buôn bán với Đàng Trong, nhiều thương gia Nhật mở thương quán ở Hội An để buôn bán giao dịch, một số người còn lấy vợ Việt, tuy nhiên thời gian cư trú của người Nhật ở Hội An chỉ kéo dài đến nửa cuối thế kỷ XVII, hầu hết phải trở về Nhật Bản vì chính sách đóng cửa của Nhật Hoàng thời bấy giờ.
Thương thuyền của các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp... cũng cập bến buôn bán ở Hội An.
- Nhờ vị trí thuận tiện trên đường hàng hải, sự phát triển của kinh tế hàng hóa, chính sách mở cửa của các chúa Nguyễn, sự có mặt của các thương nhân ngoại quốc, nhất là những thương gia Nhật Bản và Trung Hoa định cư ở đây, khiến Hội An trở thành một đô thị - thương cảng quan trọng nhất của xứ Đàng Trong.
Đến đầu thế kỷ XIX, Hội An vẫn còn là nơi buôn bán tấp nập, sách Quốc Triều chánh biên của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi: "...Cửa Đại Chiêm thuyền bè xum họp, chợ phố Hội An hàng hóa nhóm đầy, thực là nơi đô hội lớn..."(1).
Cuối thế kỷ XIX, sông Thu Bồn đổi dòng ở vùng cửa sông, Cửa Đại bị phù sa bồi lấp, làm cho thuyền bè đi lại khó khăn, trong khi đó Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, thương thuyền nước ngoài chỉ vào cửa Hàn, từ đó công việc buôn bán ở Hội An dần dần sa sút.
- Hơn 3 thế kỷ tụ cư ở Hội An, dấu ấn của văn minh Trung Hoa để lại ở đây khá rõ nét, về tín ngưỡng, có tục lệ thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quang Thánh Đế Quân, Thập Nhị Tiên Nương, Thái Thượng Lão Quân, Thần Phục Ba... nhiều công trình kiến trúc được làm theo phong cách Trung Hoa, thậm chí có những bộ phận kiến trúc được chở từ Trung Quốc sang, các đề tài trang trí điêu khắc như Thập Bát La Hán, Bát Tiên, cuốn thư, bát bửu, mặt hổ phù, dơi, chữ thọ...
Sự hiện diện của người Nhật Bản ở Hội An thật rõ ràng, nhưng cho đến nay, chưa thể xác định vị trí cũng như quy mô của "phố Nhật", bởi lẽ, ngoài những mộ người Nhật nằm ở vùng ven thị xã, và Chùa Cầu, còn gọi là cầu Nhật Bản, những kiến trúc mang phong cách Nhật Bản quá mờ nhạt. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng khu phố Nhật xưa kia nằm trên đường Trần Phú (2). Theo Chihara Daigoro thì những ngôi nhà Nhật Bản ở Hội An vẽ trong "Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ" cùng một dạng với kiến trúc cùng thời tại Nagasaki (1).
Nếu so sánh với một số đô thị và thương cảng cổ của Việt Nam, thì Hội An không phải là cổ xưa nhất, về quy mô cũng không phải là lớn nhất, thời gian thịnh đạt của nó chỉ khoảng hơn 2 thế kỷ, nhưng trong quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa, Hội An đã hình thành một sắc thái riêng: vừa có những nét chung của một đô thị - thương cảng cổ Việt Nam, vừa có những nét riêng biệt độc đáo, thể hiện qua phong tục tập quán, kiến trúc điêu khắc. Đặc biệt là dù trải qua bao biến đổi của lịch sử, sự tàn phá của thiên nhiên và chiến tranh, vẫn không làm mất đi dáng vẻ của một đô thị - thương cảng cổ, vẫn còn đó những bến tàu, đình, chùa, hội quán, nhà ở...hợp thành một quần thể kiến trúc cổ tương đối nguyên vẹn ở Hội An.
+ Nhà ở: Trong các loại hình kiến trúc tại Hội An, trước hết phải nói đến nhà ở, là những đơn vị cơ bản để hình thành một đô thị. Có 2 dạng nhà phổ biến là "Nhà Phố" và "Nhà Rường".
- Nhà Phố: Nằm san sát nhau thành từng dãy dài, chiều ngang mỗi ngôi nhà chỉ 5-6m, nhưng chiều sâu có thể lên đến 30-40m, phần lớn những ngôi nhà này phân bố ở các trục đường Trần Phú, Nguyễn Thái học, Bạch Đằng, Nguyễn Thị Minh Khai,...hình thành nên khu phố cổ.
Mặt bằng Nhà phố được chia thành 2 phần: phía trước dùng làm nơi buôn bán, giao dịch, phía sau là nơi ở và kho chứa hàng, sân sau có cổng thông ra ngoài . Kết cấu nhà khung gỗ, có từ 2 đến 4 gian, bộ vì kèo thông thường theo kiểu "chồng rường giả thủ" và "cột trốn kẽ chuyền", mái lợp ngói âm dương, tường được xây bằng gạch nhưng ở 2 bên tường vẫn có vách gỗ. Nhà xây cao nhất là 2 tầng hoặc một tầng có gác lửng, cửa ra vào các ngôi nhà cổ ở Hội An đều có gắn bộ phận "Mắt cửa", đó là phần chốt gỗ được chạm trổ những hình Bát quái; hoa 8 cánh có nhụy là vòng tròn lưỡng nghi..."Mắt cửa" là một nét độc đáo của nghệ thuật Hội An.
- Nhà rường: phân bố rải rác ở các vùng lân cận khu phố cổ (ở các xã Cẩm Châu, Cẩm Nam, Cẩm Hà...), về mặt bằng, kết cấu bộ khung gỗ giống như các ngôi nhà cổ truyền khác của Việt Nam. Nhà 3 gian 2 chái hoặc 1 gian 2 chái, phía trước là sân rộng, xung quanh có vườn cây.
+ Nhà thờ tộc: có mặt bằng hình chữ nhật, với 3 gian 2 chái hoặc 5 gian 2 chái. Bộ khung gỗ của ngôi nhà kết cấu kiểu nhà rường, vì kèo chủ yếu là "cột trốn kẽ chuyền" có nơi kết hợp thêm "chồng rường giả thủ". Tuy về kết cấu và mặt bằng giống như nhà để ở, nhưng nội thất nhà thờ tộc bài trí bàn thờ ở cả 3 gian chính. Trong số các nhà thờ tộc ở Hội An có thể kể đến nhà thờ tộc Nguyễn ở Cẩm Hà, tộc Trần Thanh ở Cẩm phô, tộc Trần ở đường Lê Lợi, tộc Trương ở đường Phan Châu Trinh, tộc Phạm ở đường Trần Phú...Các nhà thờ tộc ở Hội An đều có nguồn gốc xây dựng từ lâu đời, nhưng qua nhiều lần tu sửa hoặc xây lại, các công trình tồn tại đến nay có niên đại khoảng thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX.
+ Đình: Phần lớn các ngôi đình ở Hội An là nơi thờ Tiền hiền, có nơi kết hợp thờ Thành Hoàng và Tiền hiền. Đình được xây dựng trong khu dân cư, phía trước thường có sông hoặc lạch nước. Đình có mặt bằng hình chữ nhật, kết cấu khung gỗ, mái lợp ngói âm dương, trên bờ đắp nổi hình "lưỡng long tranh châu" hoặc "song phụng triều nguyệt".
- Đình Xuân Mỹ: là ngôi đình có niên đại sớm nhất ở Hội An, theo tấm bia của đình và một số văn tự, địa bạ của làng Xuân Mỹ có thể biết được đình được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XVII, được trùng tu nhiều lần nhưng vẫn giữ được những nét truyền thống của đình cổ Việt Nam. Đình thờ Thành Hoàng bổn xứ và Tiền hiền như phái tộc trong làng.
- Đình Ông Voi: (Hội An đình) Căn cứ vào các di vật của đình, có thể xác định đây là đình làng Hội An, một trong những ngôi đình xuất hiện sớm trong vùng, chưa rõ năm xây dựng, chỉ biết đình được trùng tu vào năm Đinh Mùi, triều vua Thành Thái (1970).
- Đình Cẩm Phô: được xây dựng rất sớm nhưng chưa rõ niên đại, năm trùng tu sớm nhất là 1818 (Gia Long thứ 17). Phía trước chính điện là tiền đình (phương đình) có 4 mái, mỗi đầu kèo chạm hình lồng đèn, chính điện có 5 gian. Trước đây thờ Bà Đại Càn và các vị thần sông nước, về sau kết hợp thờ Tiền hiền của làng.
- Đình Tiền hiền Cẩm Kim: gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của làng mộc Kim Bồng, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVI, đình được trùng tu nhiều lần. Các cấu kiện gỗ trong công trình được chạm trổ tinh tế bởi tài năng của các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng.
+ Chùa: Hội An là một trung tâm Phật giáo lớn ở miền Trung. Đa số các chùa ở Hội An thuộc dòng Lâm Tế của Tịnh Độ Tông, từ Trung Hoa truyền sang vào thế kỷ XVII.
- Chùa Chúc Thánh: nằm ở xã Cẩm Hà. Chùa có bố cục mặt bằng kiểu "Tiền công hậu quốc", là sự kết hợp hài hòa hai phong cách kiến trúc Việt Nam và Trung Hoa, với nhiều đồ án trang trí được chạm trổ công phu. Thiền sư Minh Hải thuộc dòng Phật giáo Lâm Tế đã dựng ngôi chùa vào năm 1684, ban đầu chỉ là một thảo am đơn giản, về sau các đệ tử của ông đã xây dựng lại bề thế cho phù hợp với vị trí là chùa Tổ của một môn phái. Quanh chùa có 16 ngôi mộ tháp của các vị Trụ trì đã viên tịch, nổi bật là ngôi bảo tháp của tổ sư Minh Hải.
- Chùa Vạn Đức: nằm ở thôn 2 xã Cẩm Hà, Ban đầu ngôi chùa chỉ là một thảo am tranh tre, do thiền sư Minh Lượng trụ trì, được dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII (Sư Minh Lượng là đệ tử đời thứ 33 của dòng Lâm Tế, sư đệ của thiền sư Minh Hải). Ngôi chùa được mở rộng và xây dựng bằng vôi gạch vào đầu thế kỷ XVIII, đã qua nhiều lần trùng tu nhưng ngôi chùa vẫn giữ vẻ trang nghiêm cổ kính.
- Chùa Phước Lâm: thuộc thôn 2 xã Cẩm Hà. Chùa được xây dựng vào đầu thế kỷ XVIII, do thiền sư Minh giác - đệ tử đời thứ 35 dòng Lâm Tế làm trụ trì. Mặt bằng công trình được bố trí kiểu chữ "môn", do người làng mộc Kim Bồng xây dựng. Công trình chính có gác chuông ở hai đầu, mái chồng diềm, bờ nóc hình thuyền, lợp ngói âm dương, trên bờ nắp đắp nổi hình " lưỡng long tranh châu".
- Chùa Viên Giác: tọa lạc tại phường Cẩm Phô. Nguyên trước kia, ngôi chùa được dựng tại Xuyên Trung gọi là chùa Cẩm Lý, nằm sát bờ sông, khu đất này bị nước sông làm xoá lở, do đó dân làng đã dời chùa về vị trí hiện nay vào năm 1841 và đổi tên là Viên Giác Tự. Ban đầu là chùa làng, năm 1950 chùa được Giáo hội Phật giáo địa phương quản lý.
- Chùa Kim Bửu: thuộc bộ phận làng Kim Bồng (thôn 3, xã Cẩm Kim). Hiện chưa biết chính xác năm xây dựng chùa, đây là một ngôi chùa làng, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng mộc Kim Bồng, do đó có thể chùa được xây dựng vào thế kỷ XVII. Công trình chính gồm 3 gian 2 chái, bộ vì kèo kiểu "cột trốn kẽ chuyền", các cấu kiện gỗ được chạm trổ rất tinh tế bởi tài năng của người làng mộc Kim Bồng.
- Chùa Bà: (Quan Âm Phật Tự) nằm ở góc đường Nguyễn Huệ - Trần Phú. Chưa biết chính xác năm xây dựng, tuy nhiên theo tấm bia trùng tu năm Qúi Dậu (1753) có ghi: "...Quan Thánh đế miếu và Quan Âm Phật Tự bổn xã được xây dựng 100 năm trước...". Chùa có mặt bằng theo chữ " nhất ", tam quan nằm ở bên phải chùa. Kết cấu bộ vì kèo chính kiểu "chồng rường giả thủ", ngoài hiên sát mép ngói có cấu kiện gỗ " lồng đèn " chạm hoa sen, rồng, lân... Chùa có 7 bộ cửa gỗ kiểu "thượng song hạ bảng" phần bảng chạm nổi hình "tứ linh" (Long, Ly, Quy, Phụng), chim, thú... Hiện nay mặt bằng chùa được tận dụng để trưng bày một số hiện vật có liên quan đến lịch sử - văn hóa Hội An.
- Chùa Ông: (Quan Công Miếu) là miếu thờ Quan Vân Trường (Quan Công) một võ tướng nổi tiếng Trung nghĩa thời Tam Quốc (Trung Hoa), được tôn thờ là Quan Thánh Đế Quân. Cũng như chùa Bà, Quan Công Miếu được xây dựng vào thời gian trước năm 1653. Kiến trúc được trùng tu nhiều lần, bố cục mặt bằng theo chữ "Quốc", bộ vì kèo "chồng rường giả thủ", ở hành lang kết cấu vì "vỏ cua", các cấu kiện gỗ chạm trổ hoa sen, lá lật, mây cuộn... Mái lợp ngói ống tráng men.
- Chùa Cầu: còn gọi là "Cầu Nhật Bản", "Lai Viễn Kiều". Cầu được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XVII, bắt ngang qua một con lạch, nối liền hai khu dân cư. Các thương nhân Nhật Bản đã cấp kinh phí và vẽ thiết kế để thợ Việt Nam thi công. Cầu được làm theo kiểu "thượng gia, hạ kiều", bộ vì kèo kiểu "chồng dấu con sơn", hai gian đầu cầu được xây nhô ra rộng hơn mặt cầu, 2 gian này hợp với 7 gian giữa thành chữ "công", bộ vì kèo của hai gian đầu thuộc loại vì "vỏ cua". Mái lợp ngói âm dương, bờ nắp đắp nổi hình "lưỡng long tranh châu" cách điệu. Hai đầu cầu thờ 2 cặp tượng khỉ và chó bằng gỗ, trên vách gắn 4 tấm bia ghi lại những lần trùng tu.
Năm 1653, người ta dựng thêm phần chùa, nối liền vào lan can phía bắc, nhô ra ở giữa cầu, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu. Bộ vì kèo của chùa theo kiểu "cột trốn kẻ suốt". Trên cửa gắn bức hoành chạm nổi 3 chữ Hán "Lai Viễn Kiều", được làm từ năm 1719. Trong chùa không thờ Phật mà thờ Bắc Đế Trấn Võ. Chùa Cầu đã được trùng tu nhiều lần nhưng vẫn giữ được những yếu tố gốc và dáng vẻ cổ kính.
- Hội quán: là loại hình kiến trúc mang tính cộng đồng của người Hoa, là nơi thờ các vị thần, tiền hiền và sinh hoạt đồng hương. Mặt bằng chung của các hội quán gồm: phía trước có một khoảng sân, hai bên có nhà phục vụ, "phương đình" là nơi tiến hành các nghi lễ, sau cùng là nơi bài trí các bàn thờ. Bộ khung gỗ của kiến trúc được chạm trổ công phu, cầu kỳ, sơn son thép vàng, mái lợp ngói âm dương. Các hội quán ở Hội An đã được tu sửa nhiều lần, nhưng bộ khung gỗ vẫn bảo lưu được những yếu tố gốc.
- Hội An có 5 bộ phận người Hoa, thường gọi là Ngũ Bang: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, Gia Ứng.
- Phúc Kiến Hội Quán; còn gọi là chùa Phúc Kiến, nằm trên đường Trần Phú. Ban đầu là Kim Sơn Tự, năm 1757 Bang Phúc Kiến tu bổ và mở rộng thành Hội quán của Bang, thờ Quan Thế Âm Bồ Tát và Thiên Hậu Thánh Mẫu, hai bên thờ Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ, ở chính điện trưng bày mô hình một chiếc thuyền của các thương nhân Trung Hoa dùng để đi biển trước đây. Hậu điện thờ Lục Tánh (6 vị thần bảo hộ của người Phúc Kiến), Thần tài, ba Bà Chúa Sanh thai và 12 Bà Mụ.
So với các hội quán khác ở Hội an, Phúc Kiến hội quán có không gian rộng và sâu nhất, bố cục mặt bằng kiểu "nội công ngoại quốc". Bộ vì kèo tiền điện của 'chồng ruờng giả thủ", nhiều bức chạm lộng, chạm nổi hoa lá, điểu thú rất sinh động.
- Triều Châu Hội quán: còn được gọi là chùa Ông Bổn, nằm trên đường Nguyễn Duy Hiệu, xây dựng vào năm 1845, đã được tu sửa nhiều lần. Mặt bằng kiến trúc kiểu "nội công ngoại quốc", bộ vì kèo "chồng rường giả thủ". Các cấu kiện gỗ được chạm trổ các đề tài Tứ Linh, Long Mã, điểu thú, hoa lá. Vị thần chính được thờ là thần Phục Ba - vị thần chinh phục sóng gió, về sau được đồng hóa với Phục Ba tướng quân, do đó thờ cả bài vị Mã Viện.
- Hải Nam Hội quán: còn được gọi là chùa Hải Nam, Quỳnh Phủ Hội quán, tọa lạc trên đường Trần Phú. Hội quán được xây dựng vào thế kỷ XIX. Bố cục mặt bằng kiến trúc kiểu chữ "quốc". Bộ vì kèo gồm ba rường thượng, trung, hạ, các thanh rường được liên kết với nhau bằng các "con kê"; là bộ phận chịu lực thay cho "cột trốn". Thần chủ của hội quán này là 108 người Hoa vùng Hải Nam bị chết oan ở vùng biển Thuận Quảng, sau được vua Tự đức ban sắc giải oan.
- Dương Thương Hội quán: còn được gọi là Trung Hoa Hội quán hoặc chùa Ngũ Bang, di tích nằm trên đường Trần Phú. Người Hoa thuộc 5 bang: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam và Gia Ứng đã cùng nhau xây dựng một hội quán chung vào khoảng đầu thế kỷ XVIII. Vị thần chủ được thờ là Thiên Hậu Thánh Mẫu.
+ Lăng, Miếu: thường có quy mô không lớn. Miếu nằm trong khu dân cư, còn lăng được xây dựng trên những cồn cát, gò đất ven sông hoặc bờ biển.
- Văn Thánh Miếu: có Văn Thánh Minh An và Văn Thánh Cẩm Phô, nơi thờ đức Khổng Tử và các nho đỗ đạt cao trong vùng.
- Miếu tổ nghề: có miếu tổ nghề gạch - gốm ở Nam Diêu (Nam Diêu Tổ miếu), miếu thờ tổ nghề khai thác yến sào ở Cù Lao Chàm.
- Miếu Ngũ Hành: còn gọi là Miếu Bà, thờ Ngũ Hành Tiên Nương.
- Miếu Âm Linh: thờ các chiến sĩ trận vong, oan hồn - uổng tử.
- Lăng Bà: thường thờ các vị thần Champa được Việt hóa như Lăng Bà Lồi (Cẩm Thanh), Lăng Bà Vàng hoặc Bà Dàng (Cẩm Hà).
- Lăng Ông: là nơi cư dân vùng cửa sông - ven biển lập nên để thờ cá Voi. Các ngư dân cho rằng cá voi là loài cá hay giúp đỡ họ khi bị nạn trên biển , do đó tôn làm cá Ông.
Nhìn chung các kiến trúc gỗ còn lại ở Hội An có niên đại vào khoảng thế kỷ XVII-XIX, một số di tích vẫn lưu giữ được những cấu kiện gỗ thuộc thế kỷ trước. Những kiến trúc này hầu hết được thực hiện bởi bàn tay của những người thợ mộc làng Kim Bồng.

thumb_flex-1330933814083444_file.jpg
              
           Sự kết hợp nghệ thuật Việt - Hoa, đã tạo nên một phong cách riêng ở Hội An. Với giá trị lịch sử - văn hóa nổi bật, Hội An đã được Bộ Văn hóa- Thông tin ra quyết định công nhận di tích số 506-VH/QĐ, ngày 19-3-1985. Từ đó đến nay đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế về Đô thị cổ Hội An. Nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước liên tục đến Hội An để nghiên cứu về các lĩnh vực kiến trúc, lịch sử, khảo cổ học, nghệ thuật... Nơi đây còn là điểm tham quan hấp dẫn, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Ngày 04/12/1999 Đô thị cổ HộI An được UNESCO công nhận là DI SẢN VĂN HOÁ THẾ GIỚI.
thumb_flex-1396321897119862_file.jpgthumb_flex-1396321908048248_file.jpgthumb_flex-1396321918763554_file.jpgthumb_flex-1396321928458507_file.jpgthumb_flex-1396247962414978_file.jpgthumb_flex-1396247997553213_file.jpg





Hoi An Map


thumb_flex-1359590577533064_file.jpg

 

thumb_flex-1376535927520861_file.jpg
thumb_flex-1335239199651412_file.jpg
 
thumb_flex-1353931666613413_file.jpg
 


 

Thứ 2, ngày 31 - 03 - 2014

Lượt xem (293)

 
 
 
Bình luận gần đây
Chưa có bình luận nào gần đây.